Saturday, November 8, 2008

Jarvis - quy y trở thành Phật tử trong nhà tù

Giới thiệu: Jarvis Jay Masters, một người da đen, sinh năm 1962 tại Long Beach, California, trong gia đình có 7 anh chi em. Bà Cynthia, mẹ của Jarvis là nghiện ma túy nên cả bảy người con của bà bị phân chia để sống trong các nhà tình thương của chương trình an sinh xã hội chính phủ. Cả cha của Jarvis bỏ nhà đi khi Jarvis mới vừa lên 5 và sau đó cũng thành người nghiện. Từ bé, khi chưa đầy 5 tuổi, Jarvis chứng kiến những bạo hành và lộn xộn mà sau này, Jarvis viết trong các tác phẩm của mình như ) "Me and My Sisters" and "Scars" in Finding Freedom: Writings from Death Row.Từ đó, Jarvis, ngoài thời gian ngắn sống với người cô, đã phải sống từ nhà tình thương này sang nhà tình thương khác, xa cách anh chị em. Nhiều năm, Jarvis sống với vợ chồng một gia đình nọ mà cậu bé rất yêu thương. Thế nhưng, khi hai vợ chồng này già quá, cậu lại phải ra đi, lúc ấy mới 9 tuổi. Thế là Jarvis tiếp tục cuộc sống ở các nhà tình thương. Hoàn cảnh đầy bất hạnh bi đát của gia đình và những cám dỗ tiêu cực ngoài xã hội đã đẩy Jarvis, dù chỉ mới 12 tuổi, đã nhiều lần vào tù ra khám. Khi đến tuổi 17, Jarvis là một thanh niên hung tợn, dữ dằn. Dù chưa tự tay giết chết ai nhưng Jarvis đã từng nhiều lần dùng súng để uy hiếp và đánh cướp các nhà hàng và cửa tiệm. Năm 1981, Jarvis, lúc bấy giờ 19 tuổi, lại vào nhà tù San Quentin ở California, sau khi bị kết án trộm cướp có vũ khí. Trong nhà tù anh lại tham gia băng đảng.
Năm 1985, Trung sĩ quản lý trại tù Hal Dean Burchfield bị đâm chết trên tầng hai của nhà tù San Quentin. Ba tù nhân bị bắt và bị xử về tội giết người. Andre Johnson bị xử về tội trực tiếp giết người, Lawrence Woodard bị xử về tội ra lệnh giết và Javis Masters bị kết án với tội danh là cung cấp vũ khí, đó là thanh sắt đã mài nhọn được dùng để đâm Trung Sĩ Hal Dean Burchfield. Trong thời gian án mạng xảy ra, Jarvis đang bị giam trên tầng thứ tư của nhà giam. Cả ba tù nhân đều có thể bị kết án tử hình. Kết quả vụ án, Lawrence Woodard và Andre Johnson bị kết án chung thân không được giảm án nhưng Jarvis, dù không có mặt, lại bị kết án tử hình vì một quá khứ đầy những tiền án tiền sự của anh từ những ngày còn bé cho đến năm 19 tuổi.
Jarvis Master bị chuyển sang khu dành cho tù nhân chờ thọ án tử hình từ 1990. Từ đó, các luật sư của anh đã tiến hành thủ tục kháng án. Tháng 2 năm 2007, Pháp Viện tối cao California chấp nhận xét đơn thỉnh nguyện của nhóm luật sư biện hộ cho Jarvis. Ngày 11 tháng tư năm 2008 mới đây, Pháp Viện tối cao California đã ra lệnh tiến hành thủ tục điều trần về bằng chứng của vụ án Trung Sĩ Burchfield. Những người ủng hộ Jarvis tin rằng anh ta sau 17 năm trong khu tử tội (Death Row) cuối cùng sẽ được trắng án hay ít nhất giảm án, tuy nhiên quyết định vẫn thuộc về pháp viện tối cao, và cho đến nay các buổi điều trần vẫn chưa đem lại kết quả chính thức nào.
Trong tù, Jarvis tìm hiểu về tôn giáo và cảm thấy đạo Phật đã đem lại cho anh sự an lạc mà từ lúc sinh ra đen giờ anh chưa từng có được. Năm 1989 (có tài liệu cho rằng năm 1991), Jarvis phát nguyện trở thành một Phật tử theo truyền thống Tây Tạng khi có duyên gặp Lama Chagdud Tulku ngay tại nhà tù. Lama Chagdud Tulku là một đại sư Tây Tạng nổi tiếng tại Tây Phương, được công nhận là vị lama tái sanh lần thứ 14 của Lama Chagdud. Lama Chagdud Tulku hoằng pháp khắp các nước Tây phương, từ châu Âu sang châu Mỹ cho đến khi ngài viên tịch vào năm 2002.
Đồng thời với việc trở thành Phật Tử, Jarvis Master cũng trở thành một nhà văn. Trong lúc xã hội dạy anh “Trộm cướp có vũ khí ”, “Tham gia băng đảng”, tinh thần Phật giáo đã khơi dậy trong anh tấm lòng bao dung, thương xót, tình yêu trong con người vốn thiện lành của anh. Câu chuyện “Joe Bob lắng nghe” ( Joe Bob Listens) được đăng tải trên tạp chí Turning Wheel, số mùa Thu 1995 . Trong tác phẩm “Tìm Tự Do” (Finding Freedoom), Jarvis kể ai những khoảng đời bất hạnh và khốn khó trong thuở thiếu thời đầy thương đau của mình. Jarvis ngày nay không còn là một thanh niên giận giữ như thuở anh mới bước vào nhà tù San Quentin 27 năm trước nhưng là tác giả được nhiều người yêu mến, kính trọng, và như một Phật tử, anh dâng hiến khả năng của mình để xiển dương tinh thần bất bạo động trong nhà tù.
Câu chuyện sau đây về lễ Thọ Giới (Empowerment ceremony) của Jarvis theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng được kể lại trong nhiều phần. Phần đầu do Melody Ermachild, một Phật tử, thành viên trong đội pháp lý quản lý Jarvis, cũng là người đã sắp xếp cho Lama Chagdud Tulku viếng thăm nhà tù. Phần thứ hai là lời kể của chính Jarvis, phần cuối cùng là đoạn trích bài pháp thoại của Lama Chagdud Tulku trong buổi lễ thọ giới qua lời kể của Melody Ermachild.
Lễ Thọ Giới cho Jarvin (Melody Ermachild)
Khi tôi nhận được tin Đại Sư Chagdud Tulku có thể đến nhà tù San Quentin để làm lễ Thọ Giới cho Jarvis Masters, một trong những người tù tôi quản lý, tôi vội đến báo cho anh ta biết để chuẩn bị, đức Lama có thể sẽ vào ngày mai.
Phản ứng đầu tiên của Jarvis là lo sợ. Anh ta muốn tôi gọi để hủy kế hoạch thọ giới này. Anh nghĩ mình không xứng đáng để nhận giới pháp nhà Phật. Tôi nói với Jarvis nếu quả thật anh không xứng đáng để thọ giới, không xứng đáng là con người thì chắc hẳn không có vị Lama Tây Tạng nào muốn đến gặp anh cả. Anh nên bình thản và để cơ hội tốt đẹp đến với mình. Thọ giới sẽ đem lại kết quả tốt đẹp hơn cho anh. Việc nghĩ mình không xứng đáng có thể là một điều tốt vì buổi lễ này liên quan đến việc sám hối về những tội lỗi mình đã gây tạo từ trước. Lo sợ là điều tốt, ai cũng vậy thôi. Lo sợ cho thấy anh xem buổi lễ là một nghi thức quan trọng. Buổi lễ cũng không xảy ra theo sự sắp đặt riêng của anh. Anh đang ở trong tù. Đức Lama Chagdud Tulku đã quá già, lại không được khỏe và cũng hiếm khi có mặt ở Mỹ. Một duyên tình cờ Ngài có mặt ở vùng gần đây và sẵn lòng đến gặp anh, vì thế ngày mai sẽ là ngày thọ giới của anh. Có thể xảy ra trục trặc nhưng nếu mọi việc đều tốt đẹp thì quả là một điều kỳ diệu. Tôi khuyên anh như thế.
Ông trợ lý quản đốc nhà tù đã từ chối lời yêu cầu làm lễ thọ giới bên trong phòng giam của Jarvis, nơi ngài lama có thể đặt tay lên người Jarvis. Không giống như lễ rửa tội của đạo Thiên Chúa hay đạo Do Thái, lễ thọ giới của đạo Phật không được Sở Cải Huấn công nhận. Vì thế, buổi lễ phải diễn ra qua lớp kính cửa sổ. Vị Sư cũng không thể tặng cho Jarvis những vật có ý nghĩa tôn giáo mà ngài thường tặng cho các đệ tử bên ngoài nhà tù mỗi khi làm lễ quy y. Trên đường đi ra, một cách thân tình, tôi yêu cầu ông già bảo vệ an ninh phòng khách vào ngày mai, hãy cung cấp một đường điện thoại xa để chúng tôi có thể trao đổi riêng với nhau. Tôi nói với ông nhân viên an ninh già là sẽ có một vị Lạt Ma Tây Tang đến nhà tù. Ông ta nói đùa với tôi rằng ông có xem phim “Con Trời” (The Golden Child) “đây cũng giống con trời phải không?” và còn nói đùa tiếp “Eddie Murphy (nhân vật chính đóng phim ‘con trời’) cũng đến phải không?”
Sáng hôm sau, khi tôi đến nhà tù thì Sư Chagdud Tulku và thông dịch viên Tsering Everest đã ngồi trên một chiếc ghế giữa đám đông ngoài phòng chờ. Hành lang đông nghẹt người thăm tù, khói thuốc, tiếng người nói oang oang và tiếng trẻ em khóc. Vị Sư ngồi yên, những ngón tay sạm màu đầy vết nhăn đang lặng lẽ lần tràng hạt, đôi mắt sáng của ngài như đang chiêm nghiệm những gì đang xảy ra chung quanh. Ngài ngồi im lặng trong bộ áo tràng với những nút màu xám phủ dài trên sàn phòng đợi, chòm râu màu muối tiêu. Đến trưa, khi gần đến giờ mở cửa phòng thăm, đám đông đã chờ từ sáng sớm, càng lúc càng căng thẳng hơn. Vị Sư cũng đã chờ hơn hai tiếng đồng hồ rồi. Ngay phía trước ngài, hai người phụ nữ trẻ, bằng thứ ngôn ngữ đường phố, bắt đầu mắng một ông già chỉ vì chuyện giành chỗ đứng, trong khi vị Sư vẫn nhìn họ trong im lặng.
Khi nhiều người đang đứng xếp hàng đang lắng nghe, Đại Sư kể cho họ nghe một câu chuyện về nhà tù Trung Quốc ở Tây Tạng. Ngài kể rằng người Trung Quốc bắt hàng ngàn dân Tây Tạng đào nhiều hố thật sâu. Mỗi hố là một nhà tù cho người đào nên cái hố ấy. Những người tù Tây Tạng sống, ăn ở và phơi bày thân thể cả trong mưa lạnh như thế trong cái hố sâu ấy cho đến chết. Ngay cả sau khi chết đi, cái hố sâu đó trở thành mồ chôn họ. Ngài kể rằng ở Tây Tạng có sáu mươi ngàn tù nhân bị giam giữ trong tình cảnh như vậy.
Cuối cùng chúng tôi bắt đầu đi vào phòng thăm viếng. Vị Sư tháo giày và áo tràng để được khám xét và đi qua một cái máy kiểm tra. Tôi chạy vội vào để kịp lo thủ tục đưa Jarvis ra khỏi phòng giam. Khi Jarvis xuất hiện trong ánh đèn mờ nhạt ở phía bên kia tấm kính dơ bẩn và trầy trụa, phòng thăm đã đầy kín thân nhân, vợ con đi thăm tù. Tiếng nói lớn vang dội trong hành lang, khói thuốc mịt mù bao phủ chúng tôi. Quang cảnh của buổi lễ thọ giới cho Jarvis bắt đầu như thế.
Bên phía chúng tôi, người thông dịch cầm điện thoại. Phía bên kia, Jarvis đứng sát vào mặt kính, áp tai vào điện thoại, ánh sáng mờ không soi đủ khuôn mặt anh nhưng chúng tôi cũng thấy rõ anh đang mỉm cười và đôi mắt chứa một chút lo âu.
Vị Sư hỏi: “Tinh thần con có minh mẫn không?”
Jarvis kể lại buổi lễ thọ giới
Khi tôi có cơ hội để nhận lễ thọ giới từ một ngài lama Phật Giáo Tây Tạng, cảm giác đầu tiên tôi nhớ được, là không xứng đáng. Rồi đến lo sợ khi nghĩ đến việc một buổi lễ như thế lại diễn ra tại nhà tù tiểu bang bạo động như San Quentin này.
Tôi chỉ là người mới bắt đầu tập sống theo đạo Phật. Thông qua những người bên ngoài, tôi đã bắt đầu học thực hành thiền Phật Giáo. Tôi giữ kín việc thực hành thiền. Trong khả năng có thể, tôi gữ bí mậtchuyện này, không nói với bạn tù cũng như những nhân viên bảo vệ an ninh của trại.
Sau tám năm tù, tôi vẫn cảm nhận một nỗi lo sợ thật sự khi gọi chính mình là một Phật tử và khi các bạn tù thấy tôi ngồi xếp chân trong tư thế hoa sen, cầu nguyện hay thiền định. Đặc biệt, tôi cũng rất sợ bị người khác thấy tôi nhận lễ thọ giới. Trong lúc tâm hồn tôi vui mừng chờ đón cơ hội, những tiếng nói khác trong tôi lại thắc mắc về buổi lễ này . Đây có thể là chặng đường khác tôi sẽ phải đi qua? Có thể trong tương lai tôi lại phản bội chính tôi và ý nghĩa thiêng liêng của lễ thọ giới? Phải chăng tôi đã là một Phật tử? Những điều tôi phát nguyện, thực sự, có buộc tôi phải hy sinh cuộc đời mình? Làm thế nào tôi lại có thể chống lại tất cả những bạo động của nhà tù?
Trong tù, không ai tin rằng việc cải đạo là thật. Hầu hết tù nhân đều nghĩ rằng ai đó nhận một niềm tin tôn giáo bất ngờ chẳng khác gì tham gia một trò chơi hay lừa dối để tìm đường ra khỏi nhà tù.
Tôi trải qua gần một năm để vượt lên những hoài nghi đó, từng điều từng điều một, thông qua việc thực tập và thông qua những bài giảng của ngài Chagdud Tulku, vị lama tôi sẽ nhận lễ. Dù sao, tất cả lần nữa xuất hiện trong buổi lễ. Đang ngồi dưới nền phòng giam cố gắng tỉnh tâm, tôi lại sợ. Nhà tù dội lại tiếng nói của hàng trăm tù nhân, chửi rủa và la ó lẫn lộn hòa âm cùng một lúc.
Tôi ngồi bất động, không ngớt niệm hồng danh đức Quan Thế Âm Bồ Tát. “Quan Thế Âm Bồ Tát. Xin hãy nhìn thấy con, xin giúp cho con vượt qua những chướng ngại và cho ước vọng của con sớm thành đạt” Trong mỗi lần cầu nguyện, tôi tìm nơi Quán Âm của lòng tôi một sức mạnh thiêng liêng để giúp tôi xua đuổi những lo âu, chuẩn bị tinh thần chấp nhận một cách công khai lễ Thọ Giới của mình và để giúp tôi chào đón ngày đầu tiên tôi được sống trong tinh thần Phật giáo. Nhưng mặc dù cầu nguyện như vậy, tôi vẫn muốn giữ bí mật việc tu tập của mình, để duy trì tâm thanh tịnh khi thực tập thiền. Tôi chỉ muốn có thời gian thật tĩnh lặng trong cuộc sống tù đày của mình.
Tôi chỉ gặp sư Chagdud Tulku một lần trước đó. Tôi vô cùng xúc động khi ngài bất ngờ đến nhà tù San Quentin để thăm tôi. Nguyên tắc nhà tù chỉ cho phép chúng tôi trao đổi bằng điện thoại trong buồng thăm nho nhỏ, xuyên qua cửa sổ bằng kính. Suốt buổi viếng thăm, tôi cảm nhận sự ấm áp từ tấm lòng của vị sư dù chỉ nhìn ngài thôi và tin tưởng những lời ngài giảng. Tôi hy vọng rằng, qua những lời hướng dẫn cách thực hành trong nhà tù, một ngày tôi sẽ có thể công khai nhận lễ thọ giới.
Bây giờ tôi cảm thấy may mắn được ngồi trên sàn phòng giam chờ đợi cơ hội đến. Tôi nhớ lâu lắm rồi, có một người nói với tôi rằng “Tất cả những gì ngươi cần là một tâm hồn thanh tịnh. Đó là điều cần thiết nhất. Hãy im lặng lóng nghe.” Đó là những gì tôi đang làm.
Buổi trưa vào ngày cử hành lễ, tôi được gọi tên. Một nhân viên an ninh còng tay và đưa tôi đến khu thăm tù. Trên đường đi, tôi tiếp tục niệm hồng danh đức Quan Thế Âm Bồ Tát cho đến khi mắt tôi bắt gặp đôi mắt của vị sư lần thứ hai trong đời mình.
Tôi ngồi đối diện với vị sư qua một lớp cửa kính chắn giữa. Bên cạnh ngài là Tsering, một học trò thân cận của ngài, sẽ làm thông dịch. Cô Melody, bạn và cũng là một Phật tử, cũng có mặt trong buổi lễ để mừng và chia sẻ với tôi. Chúng tôi vui mừng chào hỏi nhau trong lúc các khách thăm tù nhìn chúng tôi.
Tôi cầm điện thoại lên. Phía bên kia chị Tsering cũng đã cầm điện trên tay. Với một nụ cười dễ thương rạng ngời trên khuôn mặt, chị hỏi thăm sức khoẻ tôi. Tôi đáp lại bằng nụ cười và cũng trả lời cho mọi người biết là tôi mạnh khỏe. Chúng tôi đều vui cười. Sau đó, chị Tsering quay sang vị lama để nhận lời của ngài.
Chị Tsering nhìn tôi hỏi, “sư hỏi tinh thần anh có minh mẫn không”
“Dạ minh mẫn”, tôi đáp.
Melody Emachild: Đoạn trích từ lễ Thọ Giới
Vị Sư: Chuyện chúng ta không thể tiếp xúc trực tiếp không phải là điều quan trọng. Sức mạnh của buổi lễ là từ những lời con đang nghe. Thầy mong con có cái nhìn thoáng về mọi việc. Đừng đổ tội cho ai khác về những khó khăn của chính mình. Con sẽ thấy một tù nhân giận dữ là một điều đáng buồn vì anh ta đang tạo nghiệp xấu. Tất cả những điều đó đã nằm lại sau lưng con rồi. Từ đây về sau, con hãy hướng về phía trước. Trước tất cả mọi người, con hãy hứa: Tôi sẽ không giận dữ. Tôi sẽ không làm hại bất cứ ai bằng hành động của tôi. Đó là mối quan tâm hàng đầu của tôi mỗi ngày, dù phải mất đi mạng sống. Nếu con giữ lời phát nguyện này, con sẽ không còn tạo ra bất cứ sự đau khổ nào cho chính con trong tương lai. Chính con phát lời nguyện và lặp lại ba lần, hãy phát nguyện trước chư thiên, chư Phật và mọi người. Điều này giúp con bình an. Giống như việc nếu không uống thuốc độc thì con sẽ không bị đau bụng.”
Jarvis: Từ nay trở đi, con sẽ không làm ai đau đớn, không hại người khác dù phải mất đi mạng sống của chính mình.
Vị Sư: Lời phát nguyện thứ hai: Từ nay về sau, con sẽ cố gắng chấm dứt khổ đau của nhân loại và của muôn loài chúng sanh. Chúng ta mang thân xác này từ lúc sinh ra. Đây là phần của nghiệp, nhưng đó không phải là cứ như vậy. Việc thọ giới làm thay đổi ý thức của chúng ta về thân thể mình. Bây giờ còn sống đó, bây giờ đang chết đó và sẽ biến mất đi. Có khoảng cách giữa các phân tử. Thân thể ta cũng vậy. Một khoảng trống vô tận, một khoảng không vô tận. Có sự nối tiếp giữa thực và mộng. Thân xác, hủy hoại và tái sanh. Bản thể thì đều giống nhau. Tánh không là nền tảng của tất cả. Trong tánh không là trí tuệ, trí tuệ không sanh và cũng không diệt mà là chân lý vĩnh cửu Giống như bầu trời….Chúng ta dùng ngôn từ để gọi là tốt và xấu, nhưng tất cả thật ra chỉ là tiếng gió thổi qua giọng nói của mình. Âm thanh của bầu trời là âm thanh của tánh không. Âm thanh là một biểu hiện của tánh không và thân xác của con cũng vậy. Tất cả là một,một tia nắng là một phần cảu cả mặt trời.
Nếu điều đó khó hiểu, con hãy nghĩ về một giấc mơ. Cuộc đời chỉ là giấc mơ. Tất cả tùy thuộc về việc tôi nghĩ về nó như thế nào. Nhà tù là một ví dụ. Con có thể cho rằng nhà tù hẳn là một nơi xấu nhưng một người sống trong căn nhà tuyệt đẹp cũng vẫn tự sát thì sao. Mồi người phải ngồi một nơi nào đó, dù tuyệt vời hay khốn khó. Địa ngục chẳng ở đâu xa. Địa ngục có ngay trong cơn ác mộng của chính con người. Địa ngục là kết quả của lòng thù hận trong chính mình. Có hai cách để thay đổi tâm thức. Một là suy nghĩ, suy nghĩ và suy nghĩ , một cách khác là buông xả cho mọi suy nghĩ ra đi và lắng lòng. Bản thể của tất cả sự sống trên trái đất đều giống nhau. Chúng đều có một mùi vị như nhau. Khái niệm của tâm là những gì cho chúng ta ý nghĩ rằng có những sinh linh khốn khổ và những sinh linh sung sướng. Giống như phim ảnh, đó chỉ là ánh sáng chạy trên giấy bóng kính. Hãy nhận thức tất cả điều đó như cuốn phim trong ý thức con. Phải hiểu rằng bản chất của thân xác con là bất diệt và bản chất của con là thật, hoàn thiện và thanh tịnh. Đặc tính của tâm là rộng mở và hiện hữu. Ý tưởng phát xuất từ trí óc của con. Giống như cánh cửa kính này, nếu con chỉ nhìn vào tấm kính thì con sẽ không thấy gì cả. Nếu con nhìn vào ý tưởng con sẽ không thấy được sự toàn thiện.
Jarvis: Trong tù, giúp đỡ người khác có thể mất mạng trong nay mai. Con có được xem là vẫn giữ được điều đã phát nguyện nếu hành xử theo cách người ta thường nghĩ không? Liệu con có thể sử dụng sự khôn khéo để tránh tạo ra cái chết cho mình không?
Vị Sư: Nếu con giúp một người mà phải đổi bằng thân xác của mình thì cũng chỉ cứu một người. Tuy nhiên nếu con có thể trau giồi tâm để giúp đỡ người thì đó là cách tốt đẹp nhất. Cuối cùng con cũng sẽ hiểu ra bản chát thanh tịnh của mình. Trước khi nhận ra điều này, con sẽ cảm nhận được thiên đàng và địa ngục. Giống như để quanh con 100 tấm gương, nếu chúng ta dơ dáy và xấu xí, chúng ta thấy người khác cũng vậy. Nếu chúng ta sạch và tốt, chúng ta cũng sẽ thấy người khác như vậy. Tất cả chỉ là một chức năng của tâm. Cái cách để thực hành là để thấy mọi người thanh tịnh dù họ hại hay giúp con, ngay cả loài động vật hay một người bảo vệ an ninh nhà tù, hãy nhìn sự toàn thiện nơi họ. Hãy nghe âm thanh như toàn thiện, như Đức Quan Thế Âm đang dạy. Bất cứ ai có sanh thì sẽ diệt….Mỗi sát na là một cơ hội để được bình an, thanh tịnh và giúp đỡ. Đức Quan Thế Âm nói: con là ngài, tuyệt đối toàn thiện…..
Cuối mỗi ngày, hãy sám hối những ý tưởng và hành động xấu mình đã gây tạo. Khi làm điều tốt, tiếp tục làm. Mỗi điều sai, sám hối và để nó ra đi. Giống như mình đang bơi, cứ thế tiếp tục mà bơi.
Jarvis: Con cảm thấy thanh tịnh khi con gần gũi thầy, nhưng rồi sẽ rất dễ dàng quên đi.
Vị Sư: Hãy cầu nguyện đức Quan Thế Âm hộ trì. Từ thân thể ngài, ánh sáng sẽ đi vào cơ thể con. Ngài luôn ở với con, ngay trên đầu con, giúp xóa đi những vết dơ, ban cho con sự trong sạch và niềm vui trong cuộc sống.
Jarvis: [hỏi về trường hợp một nhà sư tự thiêu để chống chiến tranh vùng vịnh mà anh xem trên truyền hình]: Điều đó có ý nghĩa gì?
Vị Sư: Nhà sư thể hiện tình thương để chấm dứt chiến tranh. Với nhà sư việc đó là tốt. Với con, có thể là không. Có thể con chưa sẵn sàng để làm việc đó. Nhà sư đó xem thân xác không khác gì bộ áo quần. Chúng ta, không phải ai cũng làm được như vậy.
Hôm nay, con đã phát nguyện, với chúng tôi, con trở nên một người trong gia đình. Chúng tôi sẽ giúp con. Chúng tôi cầu nguyện cho con mỗi ngày. Chúng tôi luôn nghĩ về con.
Javis: Con thật sự cảm nhận được điều đó, con biết ơn thầy.

Buổi thăm viếng kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ. Sau buổi lễ, thật khó nghe từ phía đầu dây bên tôi. Quá nhiều tiếng nói chuyện ồn ào xung quanh. Các tù nhân khác cùng nói trên những điện thoại nối nhau thành một chuỗi dài, thật khó cho tôi có thể nghe tiếng của người đang thăm viếng mình. Tự nhiên tôi thắc mắc, “Ồ”, “Chẳng lễ cũng ồn ào như thế này trong buổi lễ hay sao?” Tôi cảm thấy như vừa lấy cái nút chặn âm ra khỏi tai mình – dường như tôi cũng vừa đặt chân trở vào cánh cửa của thực tế tù đày lần nữa.
Cuối buổi thăm viếng, tôi nói chuyện với Melody, người ngồi sát cửa sổ trong suốt buổi lễ. Tôi cám ơn chị đã có mặt và nhờ chị chuyển lời cám ơn Đại Sư và Tsering về tất cả phước đức họ đã mang đến cho tôi. Tôi nói với chị, tôi đã cám ơn nhưng không nói hết lời vì nước mắt của lòng biết ơn đang dâng trào, và tôi không muốn ai thấy mình đang khóc. Melody hiểu điều đó. Chị gát điện thoại, cùng với Đại Sư và Tsering vẫy tay chào, ra đi. Tôi vẫy tay chào họ.
Khi tôi chờ để được nhân viên an ninh đưa trở về phòng giam, một tù nhân gọi qua hỏi có phải tôi là một Phật tử đang thực hành không. Tôi ngừng một chút. Khi tôi sắp trả lời thì một nhân viên an ninh bước đến đứng giữa chúng tôi để lắng nghe. Tôi nhìn sang người nhân viên an ninh, thấy ông ta nhìn sang chỗ khác, tôi đáp, “đúng, tôi là Phật tử”. “Phải chăng, tất cả chúng ta đều giống nhau, cách nầy hay cách khác? Trong cuộc đời này” , rồi tôi nhìn người nhân viên an ninh và nói tiếp, “Cuộc sống, tôi nghĩ, có lẽ nên có một chút tính Phật trong tất cả chúng ta”.Người nhân viên an ninh nhin tôi với nụ cười ngạc nhiên, rồi bước đi. Tôi cũng thấy thật lạ. Tôi nhìn qua cánh cửa sổ nơi có chiếc ghế của vị Sư vừa ngồi, và chợt cảm thấy một niềm tin mạnh mẻ rằng Vị Sư như vẫn còn ngồi đó. Tôi hướng đến chiếc ghế trống và cúi đầu xá lạy ba cái

Wednesday, November 5, 2008

Ước mong hạnh phúc


(Hằng Như dịch; đoạn này trích từ chương I:“Ước mong hạnh phúc” trong cuốn “An Open Heart: Practicing Compassion in Everyday Life” (Một trái tim rộng mở: Thực hành tâm từ trong cuộc sống hàng ngày) của Ngài Dalai Lama, Nicholas Vreeland biên tập.)
Tôi hy vọng rằng độc giả, khi đọc cuốn sách nhỏ này, sẽ có một hiểu biết căn bản về đạo Phật và vài phương pháp chính yếu để người thực hành có thể phát triển tâm từ và trí tuệ trong cuộc sống. Những phương pháp trình bày trong cuốn sách này được rút ra từ ba tạng kinh điển Phật giáo. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh ngay từ đầu rằng, một người không nhất thiết phải là Phật tử mới thực hành những phương pháp thiền này. Thiền định đơn thuần là một quá trình nhờ đó chúng ta có thể làm chủ được tâm mình và chuyển hóa tâm ngày càng đức hạnh hơn. Thiền định có thể coi như một phương pháp nhờ đó mà mình loại bỏ sức mạnh những thói quen tư tưởng cũ và phát triển những thói quen tư tưởng mới. Các phương pháp, tự nó không đưa đến giác ngộ hay tâm từ và mở rộng trái tim. Tất cả tùy thuộc vào bạn, vào nỗ lực và động cơ của mình trong quá trình thực hành tâm linh.
Mục đích của thực hành tâm linh là thỏa mãn được ước mong hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều mong muốn có hạnh phúc và tránh khổ đau và tôi tin rằng tất cả chúng ta đều có quyền thỏa mãn được ước mong này.
Khi chúng ta nhìn về hạnh phúc mình mong cầu và khổ đau mình muốn tránh, rõ ràng là chúng ta trải qua những cảm xúc vui buồn và đó là kết quả của kinh nghiệm giác quan như mùi, vị, cảm giác xúc chạm, âm thanh và hình sắc. Tuy nhiên, có một mức độ thể nghiệm khác, đó chính là thể nghiệm tâm linh để nhận thức được hạnh phúc chân thật.
Nếu chúng ta so sánh an lạc của thân và an lạc của tâm, chúng ta sẽ thấy sự vui buồn của tâm có sức mạnh hơn nhiều. Ví dụ khi ta đang ở một môi trường thật dễ chịu, nếu chúng ta có điều gì buồn bã trong lòng hay có vấn đề gì đó làm mình đặc biệt lo nghĩ trong tâm thì hầu như chúng ta không để ý gì đến cảnh vật xung quanh cả. Ngược lại, nếu chúng ta có được an lạc nội tâm, chúng ta dễ dàng vượt qua những thử thách và chướng ngại trong cuộc sống. Điều này cho thấy rằng khổ vui trong tư tưởng và cảm xúc mạnh mẽ hơn nhiều so với những gì mình cảm nhận đối với thân thể.

Như chúng ta đã phân tích về sự thể nghiệm tinh thần, chúng ta có cảm nhận rằng cảm xúc mạnh mẽ trong mình (như tham, sân và hận) dường như không thể đem lại cho mình niềm an lạc lâu dài và bền chắc. Thỏa mãn ham muốn có thể cho ta cảm giác hài lòng tạm thời, thế nhưng niềm vui khi chúng ta có được ngôi nhà mới hay chiếc xe hơi mới chẳng hạn, thật ra rất ngắn ngủi chóng vánh.
Khi chúng ta sa đà vào trong ham muốn, những ham muốn ấy sẽ tăng theo cấp số nhân cả về cường độ lẫn số lượng. Chúng ta đòi hỏi nhiều và ít toại nguyện và cảm thấy khó khăn hơn để có thể thỏa mãn nhu cầu của mình. Theo quan điểm Phật giáo, tham lam và sân hận làm tâm trí chúng ta khốn đốn đơn giản là nó khiến cho ta cảm thấy bất an. Sự bất an khởi lên từ tâm thức không thoải mái sẽ đưa đến sự biểu hiện của những cảm xúc tham lam và sân hận ấy. Một tâm thái không ổn định có thể gây nên sự nguy hại cho thân thể.
Những cảm xúc này do đâu mà có? Theo thế giới quan Phật giáo, chúng có nguồn gốc từ trong tập quán nghiệp trong quá khứ. Những cảm xúc chúng ta thể hiện trong đời này thật ra đã theo chúng ta từ nhiều kiếp sống mỗi khi chúng ta kinh qua và mê đắm vào các cảm xúc như thế trong quá khứ. Nếu chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng chúng, chúng sẽ lớn mạnh hơn, hoạt động mạnh hơn và gây ảnh hưởng đến chúng ta nhiều hơn. Sự thực hành tâm linh, thật ra, là một quá trình điều phục những cảm xúc này và vô hiệu hóa sức mạnh của chúng. Để đạt được an lạc tối thượng, những cảm xúc này cần phải được đoạn trừ hoàn toàn.
Chúng ta cũng có một mạng lưới bao gồm cách thức phản ứng của tâm được chăm sóc kỹ lưỡng, hình thành qua phương tiện lý luận hay kết quả tác động của văn hóa. Đạo đức, luật lệ và những niềm tin tôn giáo là những ví dụ cho thấy hành vi của mình bị các yếu tố bên ngoài quy định. Lúc đầu, những cảm xúc tích cực để giúp chúng ta chuyển hóa và thăng hoa chưa được mạnh mẽ, nhưng chúng ta có thể phát triển những cảm xúc này bằng cách thường xuyên quán sát, thể nghiệm sự hỷ lạc và hài lòng nội tâm, và như vậy sẽ có sức mạnh nhiều hơn là cứ sống buông xuôi theo cảm xúc thuần bản năng.

Monday, November 3, 2008

Giả dối

Như entry trước tôi đã đề cập, thiếu chân thật là một biểu hiện tâm lý xuất hiện ở mọi con người bình thường, kể cả những người được cho là ‘chân thật’. Cái gọi là ‘chân thật’ ở đời chỉ mang tính tương đối mà thôi. Thiếu chân thật có thể được hiểu qua nhiều khía cạnh, trong nhiều tình huống khác nhau trong các mối quan hệ phức tạp của cuộc sống mà hơn ai hết, mỗi người tự biết mình chân thật với bản thân mình và người đến mức độ nào. Không ai hiểu động cơ trong mỗi hành động của mình bằng chính bản thân mình cả. Ai cũng có thể hiểu lầm mình, chỉ có mình không lầm mình, trừ phi cố tình tự đánh lừa mà thôi.


Ai cũng không muốn lưu ảnh lại trong mắt người khác một hình ảnh xấu cả, thậm chí không ít người không hài lòng với hình ảnh thực của chính mình, ngược lại, họ muốn người khác đánh giá họ tốt hơn những gì họ đang có. Một bức vẽ chân dung được cho là đẹp khi hình bức ảnh trông trẻ hơn người thường chứ không phải giống người thường! Thật ngộ nghĩnh! Một cô gái có sắc đẹp bình thường vẫn thích nghe khen là “cô đẹp lắm” hơn là nghe sự thật, sắc đẹp của cô chỉ vào khoảng ‘thường thường bậc trung’ thôi. Một người mặc chiếc áo mới, chẳng ra làm sao cả, tây không ra tây, tàu cũng chẳng phải tàu, hỏi bạn bè “thấy chiếc áo thế nào?”, vẫn thích nghe trả lời “ồ, đẹp lắm!” Nhiều người thích được khen là trẻ hơn tuổi, thậm chí có người vui đến mấy ngày khi nghe một người lâu ngày gặp lại khen “trông chị trẻ hơn hai năm trước.” Trời đất ạ, trái với quy luật thế mà cũng tin và vui với lời nói láo đến ngô nghê như vậy. Chính vì cái tâm lý thích khen ghét chê này mà con người trong giao tiếp, cố làm vừa lòng nhau, cố đánh mất mình để được nhiều người chấp nhận và được khen là rộng rãi, hào hoa, sống tâm lý, sống khéo, cư xử hay và lịch thiệp. Chính bản thân họ cũng quên bén rằng càng láo phét, càng được khen! Và cứ thế, nói láo trở thành phương châm sống để tự ngã được bao bọc trong nhung lụa của tâng bốc, khen hão, chấp nhận nhau trên nguyên tắc “bằng mặt không bằng lòng.”

Dường như trong cuộc sống tương đối, con người có xu hướng chấp nhận và khuyến khích nhau nói dối theo kiểu ‘không hại ai’ theo kiểu ‘white lie’. Người ta cứ nghĩ đơn giản, không đáng khen cũng khen một tiếng cho người ta vui, thì cả làng đều vui, có chết…con muỗi nào đâu! Thế nhưng, nghiêm túc mà nhìn nhận vấn đề, nói dối, không thể nào không có tác hại được. Đã là ‘dối’ thì chỉ có ‘dark’ chứ làm gì có ‘white’? Về người nhận lời khen hão, người ấy sẽ không biết đâu là sự thật trong khi, sự thật là cái mà người chân chánh nào cũng đi tìm và muốn biết. Về phía người khen, nói khác sự thật chỉ để làm vừa lòng người khác chẳng có ích gì cả mà còn có tác hại là tập cho mình một thói quen nói láo. Khi đã hình thành thói quen này rồi, người ấy sẽ sẵn sàng nói láo không ngượng miệng trong nhiều trường hợp khác, lắm khi phương hại khôn lường đến người, nhất là việc nói láo đó đem chút ít lợi trước mắt cho bản thân họ. Biết mà nói láo, theo Đức Phật, là con người khủng khiếp, không có tội ác nào trên thế gian này họ không dám ra tay. Đó là chưa kể ngay sau khi mở lời khen hão người kia mặc cái áo đẹp, trong bụng họ, rất có thể, lại khởi lên một ý niệm ngược lại “xấu hoắc mà cũng hỏi.” Đó là chưa tính đến đi ‘buôn dưa lê’ bàn tán ra vào với người khác. Từ chỗ nói không đúng sự thật ấy mà dễ dàng tạo thêm bao nghiệp xấu ác mà không hề hay biết.

Chính vì sống trong cái tương đối của xã hội, các hiện tượng ‘bằng mặt không bằng lòng’ và ‘khen trước mặt chê sau lưng’ mà chúng ta cần phải biết mình hơn. Phải đủ tỉnh táo và khôn ngoan để thu nhận và xử lý thông tin với những lời có cánh và cả với những lời ‘trụi cánh’ nếu chẳng may mình làm tổn thương đến cảm xúc người ta! Mình hiểu biết mình hơn ai hết nếu mình không tự đánh lừa cảm xúc. Nếu người đối diện không thích nghe sự thật, nếu có thể, chúng ta nên tìm cách trả lời khác hơn là khen hão lấy lòng. Ví dụ, để trả lời câu “thấy em mặc chiếc áo này đẹp không?” nếu không thấy đẹp, mình có thể trả lời “khái niệm đẹp xấu tùy vào từng người mà, thích thì tự tin mà mặc vậy” sẽ không góp phần tạo nghiệp cho mình. Có thể người nghe không được vui bằng nghe một lời khen, nhưng những ai khôn ngoan và sáng suốt đều hiểu rằng, lời có cánh thì trước sau gì cũng trụi cánh mà thôi và chân thật sẽ có giá trị 'bất hư' vậy!

Niềm tin vào cải cách


DAISAKU IKEDA là chủ tịch Hiệp Hội Sáng Giá (Soka Gakkai) quốc tế, một tổ chức của cư sĩ Phật giáo lớn nhất thế giới và đa dạng nhất ở Mỹ. Ông Ikeda đã nói về những mốc lịch sử quan trọng của tổ chức này, những hoạt động thường bị hiểu lầm và mục đích tụng niệm của các thành viên trong tổ chức qua một cuộc phỏng vấn hiếm hoi mà cộng tác viên Clark Strand của tricycle đã thực hiện được với ông.

Từ nghệ sĩ Hollywood nổi tiếng đến nhạc sĩ jazz lừng danh hay bất cứ người nào trên thế giới, đã là phật tử của Hiệp Hội Sáng Giá, đều thường xuyên niệm câu "Nam-myoho-renge-kyo" (Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) quen thuộc. Câu niệm này là đề tựa bản kinh Pháp Hoa bằng tiếng Nhật với niềm tin rằng, tất cả chúng ta, không ngoại trừ người nào, sẽ đạt được giác ngộ qua sự thành tín thực hành pháp môn này.

Hiệp Hội Sáng Giá (Soka Gakkai) được thành lập vào năm 1930, do Tsunesaburo Makiguchi (Mục khẩu Thường Tam Lang) [1871–1944], một nhà giáo dục Nhật Bản chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Nhật Liên tông, một tông phái do một tu sĩ Phật giáo khởi xướng vào thế kỷ thứ 13 trong phong trào cải cách xã hội Nhật Bản qua giáo lý được y cứ trên tinh thần kinh Pháp Hoa.

Makiguchi (Mục Khẩu) bị chính quyền Nhật Bản bắt theo Đạo Luật Duy Trì Hòa Bình vào năm 1943 vì đã chống đối mạnh mẽ thế lực vũ trang của chính quyền, không đồng ý thống nhất với các tông phái Phật giáo khác trên danh nghĩa Thần đạo quốc gia. Ngài chết trong tù một năm sau đó. Sau chiến tranh, đệ tử của Ngài là Josei Toda (Hộ Điền Thành Thánh) [1900–1958] chuyển Hiệp hội Sáng Giá thành một hiện tượng có tầm vóc quốc gia, số lượng thành viên tăng lên đáng kể và thành lập tổ chức này như là một phong trào xã hội trong dân chúng nhằm hướng đến sự an bình và quyền lợi của người dân bình thường trong xã hội. Khi Thành Thánh mất vào năm 1958, sứ mạng truyền bá Hiệp Hội Sáng Giá của triết lý Phật giáo Nhật Liên do Daisaku Ikeda (Trì Điền Đại Tác) [sinh năm 1928), đệ tử của Ngài Thành Thánh đảm trách và vị này đã thành lập Hiệp Hội Sáng Giá Quốc Tế tại đảo Guam vào năm 1975.

Với 12 ngàn hội viên ở 192 quốc gia, Hiệp Hội Sáng Giá Quốc Tế là tổ chức cư sĩ Phật tử lớn nhất, là tông phái Phật giáo gồm nhiều sắc tộc khác nhau ở Mỹ. Nơi ấy, các thành viên tổ chức được 2 600 nhóm thảo luận tập trung và gần 100 trung tâm trên khắp cả nước.

Trong số những người tây phương chuyển sang Phật giáo, có sự phân biệt rạch ròi giữa các thành viên của Hiệp Hội Sáng Giá Quốc Tế và các hành giả có xu hướng tu thiền của các truyền thống khác như Zen, thiền Minh sát tuệ và Kim cương tông. Thường thì các hành giả của các tông phái thiền này biết rất ít, nếu có, về Hiệp Hội Sáng Giá Quốc Tế. Vậy thì Hiệp Hội Sáng Giá Quốc Tế thực hành những gì? Giáo lý của tổ chức này là gì và làm thế nào để Hiệp Hội này có thể truyền bá rộng rãi ở nhiều nền văn hóa khác nhau trên khắp thế giới?

Bài phỏng vấn với Ngài chủ tịch Hiệp Hội Sáng Giá Quốc Tế, đầu tiên dành cho tạp chí Mỹ, được cộng tác viên của Trycycle là Clark Strand thực hiện trong mùa hè này qua điện thư và Andrew Gebert dịch. Đây là đỉnh điểm của một quá trình trao đổi dài hai năm với vị lãnh đạo tối cao của Hiệp Hội Sáng Giá Quốc Tế về tương lai Phật giáo liên quan với đối thoại liên tôn và về các vấn đề đang được báo chí toàn cầu quan tâm.

Hầu hết người Mỹ ít biết về Phật giáo Nhật Liên, trừ những ai là tín đồ biết niệm đề tựa kinh Pháp Hoa “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”. Xin Ngài vui lòng cho độc giả của chúng tôi hiểu thêm về vai trò của việc hành trì này trong Phật giáo Nhật Liên.

Nhật Liên tông thường dùng hình ảnh sau để giải thích 'đại đề mục' và nguyên tắc của đề mục này. "Khi một con chim trong lồng hót, những con chim bay trên bầu trời nghe được sẽ tụ tập lại bao vây xung quanh. Khi thấy những con chim trên trời ở xung quanh lồng, con chim trong lồng cũng cố gắng vượt ra khỏi lồng. Khi miệng chúng ta tụng niệm Luật thần chú, bản tánh Phật của chúng ta được triệu mời, sẽ luôn luôn hiển thị."

Khi tụng "Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh" là xướng tên của Phật tánh ở trong mỗi chúng ta và chúng sanh. Đó là một hành động thể hiện niềm tin đối với Phật tánh cùng khắp, một hành động cắt đứt nền tảng tối tăm trong cuộc sống - khả năng không tự biết bản tánh giác ngộ chân thật của chính mình. Chính nền tảng tối tăm, vô minh, mà chúng ta trôi lăn trong biển sanh tử khổ đau. Khi chúng ta gọi lên và nương tựa vào đời sống giác ngộ tiềm ẩn trong mỗi con người mình, tuy nhiên, dù là nền tảng nhất, những khổ đau không tránh được trong cuộc sống và chết này, không nhất thiết phải trải qua đau đớn. Thay vào đó, những khổ đau này có thể chuyển hoá vào một đời sống có các đặc tính vĩnh cửu, an lạc, chân ngã và thanh tịnh.

Trên bề mặt, dường như giống cách thực hành của các tông phái khác xuất phát từ thời Liêm Thương (Kamakura) của Nhật Bản - giống như cách thực hành bằng cách ngồi của Ngài Đạo Nguyên (Dogen), hay niệm Phật của Ngài Pháp Nhiên (Honen).

Như anh vừa nói đó, rõ ràng có sự giống nhau trong cách hành trì giữa Nhật liên và các tông phái khác về niệm đề mục kinh Pháp Hoa. Tôi tin rằng, dù ý thức hay vô thức, những tông phái này, cùng chia sẻ trách nhiệm với các điều kiện nhất định và những thử thách trong thời đại Liêm Thương, một thời đại xung đột vô nghĩa khi Nhật Bản chuyển sang hệ thống chính trị quân chủ tập quyền.

Thiền Zen thực hành bằng phương pháp ngồi, đại diện cho phương pháp thực hành tự lực, không y cứ vào một chân lý tuyệt đối nào bên ngoài bản thân hành giả. Ngược lại, niệm Phật là nương tựa và tìm cầu sự giải thoát từ đức Phật A-di-đà, theo phương pháp tha lực. Y cứ trên kinh Pháp Hoa, Ngài Nhật Liên tuyên bố rằng, không quá đặt trọng tâm vào tự lực, cũng không quá nương vào tha lực là cách thực hành khôn ngoan hơn cả. Cách thực hành của Nhật Liên tông là niệm Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là để khám phá năng lực và trí tuệ nằm trong chính con người của mình đồng thời làm thăng hoa chúng trong mỗi chúng ta. Thực hành như thế sẽ bao gồm cả tự lực và tha lực.

Như vậy, có phải theo ý Ngài, cách thực hành này tiêu biểu nhất cho cả hai thế giới?

Đúng rồi, bởi vì phương pháp thực hành của Nhật Liên vừa thực tế vừa có thể tiếp cận được, nó cho phép người bình thường có thể vận dụng nhiều nguồn năng lượng và trí tuệ sẵn có bên trong mình để tu tập. Cách thực hành này giúp chúng ta sống tự tin, can đảm và chiến thắng giữa những điều xấu xa tồi tệ trong thời đại có nhiều xung đột và bất hòa mà chúng ta đang sống. Tôi tin chắc rằng sự thực hành này đóng vai trò rất quan trọng để soi rọi con đường về với bản chất thật của con người. (còn nữa)


(Hằng Như dịch từ "Faith in Revolution" ở

Tuesday, October 28, 2008

Nhìn kỹ...bà già hay cô gái?!


Nhìn kỹ...,
Bạn sẽ thấy thú vị khi nhìn hình này cũng như các hình khác thuộc loại illusion như thế này. Ở góc độ tâm lý học, nhìn, nghĩ, hiểu và sống theo cách nhìn hình loại này coi ra ý vị lắm! Các bạn thử đi nhé.
Khi mình y cứ vào 'nền' khác nhau, sẽ thấy 'vật' hiển thị khác nhau. Hoạt động của tâm thức cũng theo một nguyên tắc 'nền'-'hình' tương tự như vậy.

Monday, October 27, 2008

CHÂN THẬT


Chân thật lúc nào cũng được tất cả mọi người đón nhận, ngay cả những người chưa biết sống và nói chân thật cũng hiểu được giá trị của chân thật. Trong cuộc sống, ai cũng thích được cư xử bằng tấm lòng chân thật, nghe lời chân thật và ai cũng thích chứng minh và mong được nhìn nhận mình là người chân thật. Ấy thế mà oái oăm thay, hiếm ai có thể sống thật và nói được lời chân thật với tất cả mọi người trong mọi lúc mọi nơi.

Bản thân tôi, cũng nhiều lần sống giả dối và nói không chân thật và cứ mỗi lần như thế, tôi đều có lý do để biện minh cho việc mình làm và sau một vài giây áy náy, mình tự trấn an mình như là một cách gián tiếp ủng hộ cách sống thiếu chân thật mà nhất là qua lời nói như thế.


Tôi vẫn biết đường tròn , đường thẳng hay hình phẳng gì cũng chỉ tồn tại trên lý thuyết mà thôi. Trên thực tế, làm gì có vật thể gì tròn, thẳng hay phẳng tuyệt đối đâu. Liệu các chuẩn mực đạo đức cũng nên nhìn theo hướng như vậy để cảm thấy thong dong hơn khi không phải quá e dè vẽ khung cho mình tự đứng chăng? Tôi cứ băn khoăn về phương cách và động cơ sử dụng lời nói trong giao tiếp hằng ngày, sao cho được phần người mà không lỗ lã phần ta.


Từ kinh nghiệm bản thân mình, tôi nói dối, tôi tin rằng người bình thường trong thế gian này, ai cũng…nói dối! (tôi chỉ nói những người bình thường như tôi à nghen). Trong tiếng Anh, từ nhân cách (personality) có nguồn gốc từ chữ Latin persona, nghĩa là cái mặt nạ mà người diễn viên thường mang khi biểu diễn trên sân khấu. Bởi vì con người thường có tâm lý cải trang, che chắn, một cơ chế tâm lý tự vệ - tất nhiên là có nói dối - để bảo vệ mình, nói đúng hơn là hình ảnh của mình trong mắt mọi người, nên từ persona dùng để chỉ nhân cách con người. Nói cách khác, trên sân khấu cuộc đời, mỗi một con người chúng ta, dù là người chân thật nhất, phải đóng nhiều vai diễn khác nhau. Môi trường xã hội bắt buộc phải thế, mỗi con người đều phải đảm trách các vai diễn khác nhau tùy thuộc vào các vai trò khác nhau trong xã hội. Một người vừa có thế là cấp dưới của một số người nhưng cũng là sếp của nhiều người khác, vừa là cha/mẹ của một vài đứa trẻ nhưng vừa là con của cha mẹ mình, v v.

Trong mỗi vai trò, có một chuẩn mực đạo đức tương đối quy định trách nhiệm và bổn phận của mình. Đi ra khỏi ngưỡng quy ước chung của xã hội sẽ không được chấp nhận. Ai cũng muốn mình được đánh giá và nhìn nhận tích cực với những gì chúng ta thể hiện với người khác. Chính vì bổn phận và trách nhiệm mỗi người tự nhận biết và thấy rằng mình phải thực hiện, nói dối được sinh ra và nuôi lớn song hành cùng các mối quan hệ. Chính cái tâm lý TỎ RA mà mình không dám sống thật với mình và với người. Tôi lấy mối quan hệ cha/mẹ với con làm ví dụ.

Mình là một người cha/mẹ chưa đủ tốt, chưa gương mẫu mà không muốn con mình buồn và xấu hổ khi có người cha/mẹ như mình, thế là trước mặt con, mình TỎ RA tốt. Để làm được cái gọi là TỎ RA ấy thì chỉ còn sống thiếu chân thật và nói dối với con cái. Nói dối, trong trường hợp này, là để giữ hình ảnh một người cha/mẹ gương mấu trong mắt con. Ừ mà đúng là giữ ‘hình ảnh’ thiệt, vì chỉ có cái ‘ảnh’ là đẹp thôi, còn thực chất thì không được như vậy. Chắc ít cha mẹ nào đủ cam đảm để nói với con “ba/mẹ có lỗi, ba/mẹ xin lỗi con”, hoặc “về mặt này, cha/mẹ chưa được tốt, cha mẹ sẽ sửa đổi”. Tôi tin rằng, ngay cả trong ý tưởng, các bậc cha mẹ cũng ít ai dám nhìn lại mình một cách đúng đắn để thấy những điều vụng về thiếu sót của mình như vậy. Thường thì người ta hay dùng uy quyền của cha mẹ như là ‘bùa hộ mạng’ khi gặp gay cấn với con cái. Thế là thay vì nỗ lực hoàn thiện mình, cha mẹ gắng tìm cách khéo hơn, tinh vi hơn để ngụy trang và che đậy. Trong những lúc thế này, thiếu chân thật và dối trá sẽ len lỏi vào trong tâm thức, trong cách nghĩ, lời nói và hành động để duy trì cái quyền lực ‘bất khả xâm phạm’ của cha mẹ.


Nói cho cùng, chúng ta sống thiếu chân thật vì để bảo vệ cái ‘ta’ của mình. Cái ‘ta’ ấy chúng ta tự dệt nên với nào là uy tín, thể diện và cả sĩ diện nữa. Để không ‘mất mặt’ mà cần làm cho ‘đẹp mặt’ thì chúng ta phải có nhiều chiêu thức và mánh lới để bao bọc, hộ trì, tự vệ và phản công khi có cảm giác cái ‘ta’ của mình bị đe dọa. Chúng ta làm việc này cả trong ý thức và vô thức. Gọi là vô thức nhưng động cơ tâm lý này âm ỉ chạy bên trong, ẩn sâu dưới bề mặt ý thức như mạch nước ngầm, có tác dụng dẫn dắt và điều khiển tâm thức thực hiện tốt chức năng che chắn, phòng vệ và phản công khi cần thiết.


(entry tiếp theo ở mục ‘mỗi tuần một từ’, tôi sẽ bàn tiếp về từ 'chân thật')

LỄ HỘI DIWALI

Giới thiệu


Deepavali, còn gọi là Diwali là một lễ hội chính ở Ấn Độ và là lễ hội quan trọng nhất với người theo đạo Hindu. Lễ hội Diwali được tổ chức vào ngày đầu tiên của tháng Kartika theo lịch Ấn Độ vốn tính theo quỹ đạo của mặt trăng (âm lịch), thường nhằm vào tháng 10 hoặc tháng 11. Năm 2008, lễ Diwali nhằm vào ngày 28 tháng 10 (mồng Một tháng 9 âm lịch) và lễ cầu nguyện chính được mọi gia đình tổ chức vào đêm trước đó.



Lễ hội Diwali, với người Hindu có ý nghĩa như lễ giáng sinh với người cơ đốc giáo. Người theo đạo Jain và đạo Sikh cũng tổ chức lễ hội này với ý nghĩa riêng của tôn giáo họ. Các lễ hội ở Ấn Độ đều gắn liền với các truyển thuyết và lễ hội Diwali cũng không là ngoại lệ. Ngày nay, tín đồ các tôn giáo Hindu, Jain và Sikh trên khắp toàn cầu coi đây là “lễ hội ánh sáng” với ý nghĩa đốt ánh sáng trí tuệ và thiện lành để xua tan bóng tối ngu muội và xấu ác nơi mỗi con người chúng ta.