Sunday, July 13, 2008

NGƯỜI TRÍ THỨC



Cuối tuần, lướt web đọc tin, thấy GS Tuấn, trên blog http://tuanvannguyen.blogspot.com/ có định nghĩa về người trí thức thật đơn giản và chuẩn xác rằng “người trí thức là người sáng tạo ra tri thức mới”. Thấy tâm đắc, tiện tay tôi gõ tiếp vài dòng.

Lâu nay, nhiều người vẫn cho là những người có bằng cấp cao là người trí thức. Quan niệm như vậy coi ra chưa thật chính xác. Thật ra, theo định nghĩa của GS Tuấn trên, người có bằng cấp hay học vị chưa hẳn là người trí thức nếu người ấy chưa sáng tạo ra tri thức mới. Ngược lại, những người, dù chưa từng qua huấn luyện đào tạo trường lớp khoa bảng nào cả, nhưng sáng tạo ra tri thức mới, có thể coi đó là ‘người trí thức’. Sở dĩ xã hội thường đồng hóa ‘người có bằng cấp’ với ‘người trí thức’ vì trong khóa đào tạo cho người làm công tác nghiên cứu, người học được hướng dẫn phương pháp tiếp cận và khám phá tri thức mới một cách bài bản nhất và người học đòi hỏi phải biết áp dụng lý thuyết đã học và thực tế để tìm ra cái mới. Một nghiên cứu sinh đúng nghĩa phải là người có năng lực, sáng tạo ra tri thức mới để đóng góp trong lãnh vực nghiên cứu và ứng dụng. Vì lẽ đó, người học trên đại học thường có cái ‘danh’ là ‘người trí thức’ theo cách hiểu thông thường.

‘Sáng tạo’ là cống hiến một tri thức mới góp phần làm phong phú kho tàng tri thức nhân loại mà có thể suốt một đời mình không ngừng sử dụng. Đặt ra một khái niệm mới hoặc đem lại một ứng dụng mới cho các khái niệm cũ cũng có thể cho là sáng tạo. Chính sáng tạo mà con người luôn có đam mê trong nghiên cứu và học hỏi trong nhiều lãnh vực khác nhau của đời sống. Khám phá ra cái mới tạo nên sự phấn khích cho người làm công tác nghiên cứu để họ cảm thấy công sức họ bỏ ra không uống phí mà được đáp đền xứng đáng. Có góc nhìn mới đối một vấn đề tưởng chừng ‘xưa như trái đất’ có thể đem lại điều thú vị và bổ ích cho bản thân người đó và cho mọi người. Sáng tạo ra tri thức mới đem lại niềm vui và động cơ cho người học và nghiên cứu càng nỗ lực nhiều hơn và chỉ có bản thân người ‘khám phá’ mới hiểu đầy đủ nhất điều này có giá trị và ý nghĩa như thế nào. Về mặt chủ quan, người học và nghiên cứu tự đáng giá mình qua tri thức sáng tạo của bản thân mình hơn là chờ đợi khi hoàn thành khóa học, sự nỗ lực của mình được người khác công nhận qua tấm văn bằng.

Bằng cấp chỉ là một sự ghi nhận khách quan quá trình nỗ lực của một cá nhân nào đó trong một giai đoạn nhất định mà kết quả là tốt nghiệp khóa học hay hoàn thành một công trình nghiên cứu. Cầm văn bằng trên tay, người sở hữu nó có ‘nghiễm nhiên’ trở thành người trí thức không? Chưa hẳn!nếu không có một sáng tạo tri thức nào trong công trình nghiên cứu ấy, dù có cái ‘danh’ là bằng này cấp nọ, cái ‘thực’ của một người trí thức hãy còn xa lắm. Nếu chỉ biết tiếp cận tài liệu, xào qua, nấu lại, lắp tới, ghép lui những cái người ta đã tìm ra và thiên hạ dùng đã cũ mèm mà cho là ‘sản phẩm nghiên cứu’ của mình thì kẹt quá.

Cách đây vài hôm, qua trao đổi với một người bạn đang làm nghiên cứu, tôi hiểu thêm về mối liên hệ giữa tri thức và người trí thức. Cô bạn chia sẻ, giáo sự hướng dẫn cô nói rằng, là một nghiên cứu sinh phải làm được ba điều. Thứ nhất: sáng tạo ra tri thức mới, tìm ra những điều chưa từng được công bố trong lãnh vực mình nghiên cứu. Thứ hai: biết nhìn ở góc độ riêng của mình và có sự đánh giá mới mẻ về một vấn đề cũ vốn đã được nhiều người nghiên cứu rồi. Cuối cùng, biết tiếp cận, khai thác và xử lý hiệu quả nguồn tài liệu để phục vụ cho quá trình nghiên cứu của mình. Chưa làm được ba điều này, khoan hãy nghĩ đến chuyện hoàn thành khóa học, có được văn bằng học vị và đứng vào hàng ngũ trí thức.

Người trí thức thực sự là người được đào tạo khoa bảng và có năng lực xứng tầm với học vị và văn bằng họ có được. Những người có năng lực, có khả năng sáng tạo ra tri thức mới sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho mọi người và xã hội. Những đóng góp về mặt tri thức của họ qua công trình nghiên cứu đã hoàn thành là điều hiển nhiên rồi. Cái quý giá hơn và lợi ích lâu dài bền vững hơn là khả năng tư duy, cảm nhận tinh tế và năng lực khám phá tri thức mới tiềm tàng của những người trí thức được hiển lộ dần qua quá trình xúc sự trong cuộc sống, qua yêu cầu của công việc và tính chất vấn đề cần xử lý. Trong khóa học, họ đã được đào tạo để có được phương pháp khám phá tri thức hiệu quả nhất. Điều đáng trân trọng ở người trí thức là phương pháp và khả năng khám phá chứ không chỉ công trình nghiên cứu, lại càng không phải văn bằng học vị dẫu rằng văn bằng có giá trị về mặt pháp lý.

Trong mọi hoàn cảnh, mọi môi trường, chúng ta hãy học tập cách nhìn nhận vấn đề, phương pháp tiếp cận và khám phá cuộc sống của người trí thức. Tuy chưa và có thể không bao giờ mình trở thành người trí thức, nhưng biết đi theo con đường họ đi qua, ắt mình cũng có được niềm vui và đam mê trong học tập và khám phá cái mới, dù chỉ là nho nhỏ, trong cuộc sống không ngừng trôi này.

Sunday, July 6, 2008

Ở TUỔI 18, CON CÁI NGHĨ GÌ KHI HÀNH ĐỘNG?


Đợt thi đại học đầu tiên năm 2008 (ngày 4 và 5 tháng 7) vừa khép lại, các 'sĩ tử' tiếp tục chuẩn bị cho các kỳ thi tiếp. Hầu hết thí sinh nào cũng dự thi ít nhất hai trường để tận dụng cơ hội bước vào cánh cửa đại học để rồi tự xác định hướng đi cho mình. Mọi nỗ lực của con cái nhằm thể hiện cái gọi là 'biết ơn cha mẹ' qua cách làm 'đẹp mặt gia đình' theo truyền thống văn hóa Á Đông của người Việt. Có em tận dụng dự thi thêm vào trường cao đẳng để xác định con đường 'bước ra khỏi nhà' hòa nhập vào môi trường xã hội ở lứa tuổi 18.


Ở tuổi 18, bao đứa con ngoan làm vui lòng cha mẹ bằng kết quả học tập của mình, bằng đức hạnh bản thân, bằng tinh thần vượt khó, bằng chia sẻ khó khăn của gia đình; nói chung, bằng cả tấm lòng của một người con. Ấy thế, đây đó vẫn còn nhiều đứa con, ở tuổi 18, làm đau lòng cha mẹ và sỉ nhục gia đình một cách đáng tiếc.


Đọc câu chuyện một bà mẹ gác lại công việc làm ăn, đưa con gái từ Gia Lai lên Đà Lạt thi từ ngày 30 tháng 6 đến ngày 4 tháng 7, và rồi con bà 'mất tích' trước cổng trường thi, lòng tôi nặng trĩu. Câu chuyện thế này.


Lúc 5h30 sáng ngày 4/7 bà đưa con đến điểm thi, nhưng tới cổng trường thì cô con gái bà kêu đau bụng, bảo mẹ về nhà trọ lấy dầu gió và thuốc. Khi trở lại, người mẹ không thấy con gái nữa. Bà nghĩ con đã vào thi nên đi về nhà trọ. Trưa, không thấy con về, bà nghĩ là cô ở lại để chiều thi tiếp. Đến tối, bà chạy tới ĐH Đà Lạt tìm nhưng không thấy con. Sau khi kiểm tra, một cán bộ trong Hội đồng thi của cho biết con bà không dự thi ngày 4/7. Lúc này bà mới đi trình báo công an phường.


Ngày sau (ngày 5 tháng 7), sau khi tìm kiếm và kiểm tra thông tin, người ta được biết cô gái này đã bỏ thi để đi với bạn trai.


Đọc mẩu tin này mà tôi thấy nhói lòng, thương cho người mẹ quá và giận đứa con gái vô ơn và dối trá. Nó đối xử tệ bạc ngay đến mẹ mình, người mang nặng đẻ đau, ẵm bồng chăm chút từ tấm bé. Đến 18 tuổi đầu, người mẹ tội nghiệp ấy còn đưa con đi thi và theo con đến tận trường thi. Thế mà đứa con vô nghì ấy còn có thể dối gạt mẹ nó. Vậy ai trên đời này nó có thể sống tốt đây?! Tôi hình dung ra hình ảnh người mẹ tất tưởi chạy về nhà trọ lấy thuốc và dầu gió khi nghe con đau bụng ngay trước giờ thi, rồi một ngày dài chờ đợi, trông mong khi nghĩ con đang ở phòng thi, vắt óc để làm bài. Rồi người mẹ ấy hoảng hốt, thất thần khi đến trường tìm con mà không thấy... Ôi! tấm lòng người mẹ và sự vô ơn của đứa con...



Có những đứa con thiếu nghĩ thường hành động ngu xuẩn làm cho cha mẹ quằn quại trong khổ đau, còn nó thì luôn đòi hỏi 'nước chảy xuống'. Có những đứa con ỷ lại là dù mình thế nào đi nữa, cha mẹ cũng chấp nhận mình vì tình thương của cha mẹ là 'cho đi không đòi lại bao giờ'. Chúng nào có biết rằng, 'nước chảy xuống' đấy, nhưng khổ quá rồi thì nước mắt cũng chảy xuống sau khi đã quá nhiều lần nén cho nước mắt chảy vào trong. Nhiều đứa trẻ, đến tuổi 18 rồi đó, đã viết nên trang sử đời mình quá nhiều vết nhơ với những chiến tích hễ nhắc đến ai cũng phải rùng người. Những cái tạm gọi là 'được' cũng chỉ vài nét chấm phá đơn điệu trên cái nền dày đặc những lỗi lầm, mỏi mắt dõi tìm may ra mới thấy. Thật ngao ngán! Rồi đây, cuộc đời những con người ấy rồi sẽ ra sao? họ có suy nghĩ gì về bản thân và cha mẹ họ? họ sẽ làm gì khi mang thân phận một kiếp người?

NÊN SỐNG CHÂN THẬT


Chân thật trong cuộc sống luôn luôn là điều tốt, từ trước đến nay, chân thật luôn được trân trọng và tôn vinh. Ngay cả với người chưa từng biết sống chân thật là gì, họ vẫn luôn miệng ngợi khen đức tính này. Tưởng chừng nghịch lý phải không các bạn? Đó là sự thật. Vì sao? người không chân thật, không lúc này thì lúc khác, họ phải nếm vị đắng cay vì nhiều người xung quanh không đặt nơi họ một niềm tin và chính họ cũng thấy người sống chân thật có uy tín thế nào. Thế nhưng, họ không thể làm gì khác dù phải chịu đau đớn và cay đắng vì không dễ một ngày một buổi, họ có thể trở thành người chân thật.


Chân thật là một đức tính mà con người cần phải phấn đấu một đời để duy trì và phát huy. Có một điều người chân thật được đáp đền xứng đáng với sự nỗ lực liên tục của họ là có được tâm thanh thản bình yên. Tất nhiên sẽ có lúc bạn phải chịu sự thiệt thòi vì chân thật. Thế nhưng, lúc đó, nếu nghĩ đến tâm bình yên như là một quả ngọt của lối sống chân thật, tâm bạn sẽ đủ mạnh để không còn chấp nhặt những điều nhỏ bé, tầm thường đó nữa và thản nhiên bước qua. Lối sống chân thật chỉ cho quả ngọt khi chín muồi. Ai nóng lòng vội hái quả xanh thì không đủ kiên nhẫn để đợi đến khi nếm được hương thơm vị ngọt của quả chín. Chính vì vậy, nhiều người hiểu được giá trị của chân thật trên lý thuyết, nhưng rồi họ bị cuốn trong dòng sống tạm bợ và phù phiếm, bằng lòng với cái lợi chóng vánh trước mắt mà càng ngày càng xa chân tâm của mình, thật đáng tiếc.



Người sống không chân thật thường có biểu hiện bênh vực mình khi có lỗi. “Vụng múa chê đất lệch; hát dở chê micro rè” có thể được dùng để chỉ tính cách của người thiếu chân thật. Đối với bất cứ chuyện gì, họ luôn tìm cách biện minh cho mình bằng cách đổ lỗi cho khách quan. Những người ấy thường không dám nhìn nhận sự thật mà luôn bào chữa cho những sai lầm của mình. Có những trường hợp, trong tâm người ta đang bênh vực chính mình, không nhìn nhận lỗi nhưng không biểu hiện ra bên ngoài. Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những người hay cãi khi giận dữ. Nếu là người chân thật, họ sẽ nhận ra mình đang bị sân và tìm cách vượt qua. Người không chân thật sẽ không bao giờ nhận ra điều đó mà luôn đổ lỗi cho người khác (cho rằng vì người ta ngang bướng, người ta xúc phạm nên mình nổi giận…). Người luôn biện minh cho mình là người không chân thật. Người như vậy không thể rèn luyện lâu dài và làm việc lớn được. Người không chân thật không dám nhìn sự thật, không dám nhận lỗi của mình, và rõ ràng là không thể nào kiểm soát được tâm mình và lại càng không thể tăng trưởng về đạo đức.


Người thiếu chân thật thì không thể thiện lành vì tâm chân thật và tâm thiện thường đi đôi với nhau để làm cho ai sở hữu chúng trở nên đẹp và có giá trị. Chân-thiện-mỹ luôn có giá trị trong mọi lúc mọi nơi. Người nói dối là người không nói đúng sự thật. Nếu người nói thật, việc xảy ra như thế nào, họ trình bày như thế ấy và luôn cảm thấy tâm thanh thản, thì ngược lại, người nói dối phải tác ý, phải khởi tâm, dựng chuyện cho hợp lý và cố ghi nhớ để lần khác không nói sai đi. Chính vì vậy, tâm của họ rất mệt mỏi. Đó cũng là lý do khiến tâm không bình an được. Người thiếu chân thật luôn sống trong điên đảo vọng tưởng vì phải luôn động niệm để đặt điều, khởi ý và tưởng tượng để thêu dệt câu chuyện theo chủ đích của mình nhằm bảo vệ và che giấu cái xấu ác của bản thân. Như vậy, con đường phấn đấu của người ấy không bền.


Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, người đã đấu tranh xoá bỏ được chế độ nô lệ ở Mỹ từng nói một câu rất chí lý “Ta có thể lừa dối một người nào đó suốt đời, ta có thể lừa dối mọi người trong một lúc nào đó, nhưng ta không thể lừa dối mọi người mãi mãi”. Một vị Tổng thống mà hiểu được như vậy và lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình là điều rất quý. Sở dĩ ông nói như vậy vì ông quan niệm rằng, chân lý có sức mạnh, sự thật có sức mạnh. Các bạn ạ, cuối cùng chân lý tự nó khẳng định giá trị của mình và sự giả dối bao giờ cũng bị phanh phui, cây kim trong bọc sớm chầy gì cũng thò đầu ra thôi. Vì vậy, cái hay nhất của con người là sống trên đời biết làm việc lớn thì đừng suy nghĩ thiếu chân thật và làm điều gian dối. Dẫu rằng cuộc đời này chưa hoàn hảo nhưng chúng ta, mỗi người nên góp một bàn tay xây dựng thế giới cộng sinh của mình tốt hơn bằng hành động thiết thực của chính bản thân mình: hãy sống chân thật với mình và với những người xung quanh.


Những ai càng trân trọng nhân vị của mình, người ấy càng ý thức trong việc giữ tâm ý mình thành thật. Người có suy nghĩ và tự trọng luôn biết giữ hình ảnh của mình bằng cách sống chân thật, nhất là khi họ sống trong môi trường tập thể, nơi 'tiếng lành đồn xa' thì tiếng dữ cũng không lý do gì mà không phát tán khắp bốn phương. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy, sự thật có sức mạnh rất lạ kỳ. Dù bị che đậy, cuối cùng sự thật cũng vẫn là sự thật. Nếu vì một chút lợi danh nào đó mà dối trá, vì một chút sỉ diện mà đậy che, vì một chút tự tôn mà lươn lẹo thì uổng lắm! Một khi bị người đời phanh phui ra ánh sáng, uy tín của họ sẽ không còn nữa. Vì vậy, tốt nhất là nên sống đời chân thật.

Đã là con người ai cũng có những vụng về, vấp ngã và tội lỗi; điều quan trọng là sau mỗi lần vấp ngã, chúng ta cần làm gì để không hổ thẹn với lương tâm và với những người xung quanh. Cách sống chân thật hay giả dối được nuôi dưỡng tùy thuộc vào thái độ của bạn sau mỗi lần vấp ngã như thế đấy!

Monday, June 30, 2008

TÌNH CẢM GIA ĐÌNH – TÀI SẢN VÔ GIÁ

Biết đứa cháu ngày mai lên đường đi thi đại học, từ phương xa, tôi gọi điện về thăm, động viên cháu vài lời. Thế mới biết cả nhà đang xúm xít lo cho cháu: Mẹ chuẩn bị hành lý để mai đưa cháu đi, Ba nhắc nhở Mẹ đem theo thuốc cảm và những vật dụng cần thiết, em thì ríu rít bên chị lo ngày mai Mẹ và chị đi xa mấy ngày, bé sẽ nhớ nhiều lắm, dù bên cạnh có Ba, rồi chúc chị làm bài thi tốt…


Qua điện thoại, tôi nghe lao xao tiếng nói cả nhà vọng vào ống nghe, dù tôi đang nói chuyện với đứa cháu chuẩn bị “lên đường xung trận”. Cháu nói cảm thấy rất tự tin và vui khi có Mẹ đưa đi thi. Tôi thắc mắc “Mẹ đi làm nhà nước, sao nghỉ được nhiều ngày vậy?” Bé trả lời, giọng đầy yêu thương pha lẫn xúc động “Mẹ để dành phép cả một năm đó Cô ạ. Có hôm Mẹ không khỏe, Mẹ cũng không dám xin nghỉ phép, để dành dịp này xin nghỉ để đưa con đi thi đó.” Sau khi chúc cháu, tôi nói chuyện với chị tôi. Chị nói “vẫn biết Bé dạn dĩ, có thể đi cùng với bạn bè, nhưng đưa con đi thi để ủng hộ tinh thần cho Bé ở bước đầu chuẩn bị vào đời cũng là niềm vui của người làm Mẹ mà.”


Tôi quý cách chị tôi chăm nom các cháu. Chị thương yêu, chăm sóc con nhưng vẫn tập cho các cháu có bản lĩnh trong cuộc sống mà không thiếu chất liệu thương yêu và gần gũi. Qua cách nói của cháu tôi, tôi hiểu cháu đã đủ lớn để cảm nhận được tấm lòng của Mẹ dành cho cháu. Lời chị tôi tâm sự cho tôi hiểu được tấm lòng của người Mẹ dành cho đứa con yêu của mình trong giai đoạn quan trọng này của Bé. Cuộc đời Bé rẽ ngoặc từ đây. Nếu đậu đại học, một con đường tiến thân mở ra trước mặt. Nếu rớt đại học, nhiều con đường khác sẽ mở ra và ai cũng phải chọn cho mình một con đường để đi. Rồi đây, bằng cách này hay cách khác, cháu tôi sẽ bước vào đời. Thế nhưng, ‘đậu’ lần đầu tiên trong kỳ thi tuyển đại học đồng nghĩa với thành công đầu đời cho một con người. Trong thành công này, tình cảm gia đình hẳn đã góp phần chắp cánh cho cháu bay vào tương lai. Nếu không ‘đậu’ cũng có thể hiểu là thất bại thì tình cảm gia đình sẽ là nơi trú ẩn bình yên nhất cho những cảm xúc của cháu để giúp cháu vượt qua khó khăn đầu đời này. Trong mọi cảnh huống, tình cảm gia đình vẫn là nhựa sống cho những đứa con còn ngỡ ngàng trong những bước chân đầu tiên đi vào đời.

Chị tôi với lương tháng gần một triệu rưỡi chắc hẳn không có tiền của để lại cho con cái. Song, có một điều tôi tin rằng là chị đã để lại cho con cái chị một gia tài vô giá mà không phải cha mẹ nào, gia đình nào cũng có đủ điều kiện để thiết lập và duy trì: đó là tình thương yêu, chăm sóc và quan tâm giữa những người thân trong gia đình. Tôi hy vọng cháu tôi, cũng như nhiều trẻ em ở mọi lứa tuổi, nhận được món quà vô giá này từ cha mẹ và biết sử dụng món quà này hợp lý trong cuộc sống của mình. Một điều cần lưu ý cho các bậc phụ huynh là, muốn con bạn nên người, hãy dành cho chúng nửa số tiền và gấp đôi thời gian cần thiết. Điều này thật khó thực hiện trong cuộc sống hiện nay, nhất là ở các gia đình kinh doanh và trong môi trường thành phố. Tuy nhiên, các bạn ạ, một phần lớn cuộc sống các bạn sống CHO con cái thì hãy dành những gì CON CÁI THẬT SỰ CẦN hơn là những gì CHÚNG TA NGHĨ CON CÁI CẦN.


Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thế giới ngày càng phẳng hơn và con người sớm rời khỏi gia đình hòa nhập vào xã hội. Thế nhưng, tôi nghĩ, khi đứa trẻ sống xa gia đình, tình cảm của người thân là một thứ tài sản thiêng liêng nhất con người có thể mang theo suốt cuộc hành trình trong cuộc sống. Gia đình là bệ phóng để các em tự tin và vững bước vào đời. Mai sau, trên đường đời muôn vạn nẻo, tôi tin rằng tình cảm gắn kết của gia đình là hành trang quý báu để cháu tôi có thể định hướng trong cuộc sống của mình. Chất liệu tình thương gia đình ấy sẽ nhuận chảy trong người con được yêu thương tạo thành một lớp áo bảo hộ tinh thần cho con cái có thêm sức đề kháng với những nguy hiểm, thác loạn của cuộc sống hiện tại. Tôi tin vậy và có lẽ chị tôi cũng tin như thế khi đặt tình thương yêu, nhắn gởi và hy vọng ở đứa con của mình.

Sunday, June 29, 2008

THE LIFE OF THE BUDDHA

The life of the Buddha

BẰNG KHEN


Đánh giá quá trình học tập, cho đến nay, vẫn được áp dụng qua hình thức thi cử. Vẫn biết thi cử, dưới bất kỳ hình thức nào, tự luận hay trắc nghiệm, cũng có nhiều mặt hạn chế bất cập của nó. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi có một hình thức đánh giá quá trình học tập một cách hiệu quả và khoa học hơn, người ta vẫn cứ phải áp dụng hình thức đánh giá cổ điển tồn tại từ lâu và vốn có nhiều khiếm khuyết này. Khi nào còn thi cử, áp lực còn đè nặng lên người học, người dạy và cả một hệ thống giáo dục nữa. Khi nào còn thi cử, điểm số và khen thưởng đồng hành cùng môi trường học đường như bóng với hình. Thế nhưng, cảm nhận về khen thưởng có lẽ cũng thay đổi theo thời gian.

Đầu tháng này, học sinh bắt đầu nghỉ hè sau một năm “miệt mài cày và tụng kinh không gõ mõ”, nói theo cách nói của đứa cháu tôi. Gặp tôi, nó nhảy cẫng lên khoe là được “giải thoát, ít nhất một tháng và tha hồ về Nội chơi với bạn bè, bơi ở con kênh quê quen thuộc có dòng nước xanh mát quanh năm, không chán như học thuộc bài trong sách giáo khoa.” Con bé nói chuyện coi bộ cũng có khiếu văn và hài hước ra phết. Khi tôi hỏi đến kết quả học tập cuối năm, cháu tôi nói “được học sinh giỏi Cô à” rồi cháu rút tấm giấy khen trong kệ học tập miễn cưỡng đưa tôi, không tìm đâu ra một dấu hiệu vui mừng trên nét mặt cô bé. Tôi hỏi “học sinh giỏi mà con không vui sao?” Bé nói “bạn bè con đều như vậy cả” rồi cất tấm giấy khen vào lại vị trí cũ. Nó sẽ nằm đấy, lạnh lẽo và buồn tẻ, không biết khi nào cháu tôi mới chạm vào nó nữa. Trời đất ạ, cách cháu tôi cất giữ tấm bằng khen không bằng tôi cất giữ bài kiểm tra một tiết thời còn đi học nữa.

Tôi nhớ hồi đó, một bài kiểm tra được điểm cao kèm theo lời phê của Cô giáo là “có ý tưởng sâu sắc, cách hành văn mạch lạc…” đủ để tôi sung sướng đến nhiều tiếng đồng hồ và coi đi coi lại mấy lần trước khi cất cẩn thận vào tập đựng bài kiểm tra. Lâu lâu lại lấy ra coi lại, chiêm nghiệm với thành quả học tập của mình. Điều này là động cơ để tôi nỗ lực nhiều hơn trong học tập. Tôi còn nhớ, cuối năm lớp Một, lần đầu tiên trong đời tôi nhận phần thưởng và tấm giấy khen chứng nhận học sinh giỏi. Thú thật, đêm đó tôi sung sướng đến không ngủ được. Mất ngủ đối với một con bé 7 tuổi bà con ạ…đủ để thấy tôi sung sướng dường nào. Ngày hôm sau, tôi hì hục dán tấm bằng khen lên tường ở góc học tập của mình. Mỗi lần nhìn mảnh giấy khen, mỗi lần thêm nghị lực và có niềm vui trong học tập.

Còn cháu tôi? Cũng bằng khen loại giỏi như tôi thuở đó, mà sao cháu hờ hững quá, không có cái cảm xúc ngập tràn sung sướng như tôi thời ấy. Tôi nghĩ rằng, cách dạy cách học hiện nay không hề có chức năng làm chất xúc tác thúc đẩy người học nỗ lực vươn lên. Có lẽ hồi đó tôi là một trong hai học sinh đạt loại giỏi trong lớp nên tôi có cảm giác vui hơn so với cháu tôi khi nó cảm thấy “bạn bè con đều như vậy cả.” Tôi thiết nghĩ điểm số và khen thưởng không chỉ để đánh giá kết quả học của các em mà còn nên là động cơ thúc đẩy các em nỗ lực vươn lên. Cạnh tranh lành mạnh vốn vẫn được khuyến khích nhằm tạo môi trường cho các em so sánh mình với bạn bè để vươn lên đó chứ. Một khi hầu hết các bạn trong lớp đều đạt học sinh giỏi thì danh hiệu ấy chẳng có ý nghĩa gì nhiều với người đat được. Có lẽ vì thế nên cháu tôi thản nhiên, không tỏ ý vui mừng gì khi cầm trên tay bảng giấy khen này.
Phân loại kết quả học tập không chỉ để cho thầy cô ghi điểm thành tích với cấp trên, không chỉ đánh giá kết quả học tập của các em ít thực nhiều ảo mà quan trọng hơn , sự đánh giá này phải là động lực để các em nhìn lại quá trình phấn đấu của mình và nỗ lực vươn lên. Sự đánh giá còn giúp cho thầy cô giáo biết được hiệu quả của phương pháp giảng dạy đang áp dụng để kịp thời điều chỉnh trong thời gian tới.

Chao ôi, cháu tôi mới học lớp 4 thôi đã thấy việc học là ‘cày’ và là ‘tụng kinh không gõ mõ’ nghe sao mà thê lương quá! Không ai chối cãi truyền thống Việt Nam mình là học thuộc lòng. Thế nhưng, hiện nay, chương trình cải cách, sách giáo khoa cải cách rồi mà. Hàng tỷ đồng tiền của dân của nước đổ vào đó với hy vọng xây dựng một chương trình học trên nền tảng người học kiến lập tri thức cho bản thân dưới sự hỗ trợ và tổ chức của giáo viên, mà sao vẫn phải ‘cày’, phải ‘tụng kinh’ khổ sở thế này? Sách cải cách đó, chương trình mới đây, nhưng than ôi người có trách nhiệm vẫn ‘cũ’ thì mong gì có bước chuyển mình ‘mới’? Thầy cô giáo tiếp tục sử dụng phương pháp dạy cổ điển rót kiến thức vào đầu học trò thì đâu cũng vào đó thôi. Thêm vào đó, với sự hỗ trợ của hệ thống internet liên thông toàn cầu, con người khắp hành tinh có một kho tư liệu khổng lồ và từ đó, có thể hội tụ, trao đổi thông tin một cách dễ dàng, học thuộc lòng chỉ nên trả về cho quá khứ.

Hồi trước, kết quả học tập còn truyền cảm hứng cho người học để cố gắng hơn trong học tập, ngày nay, bọn trẻ thờ ơ, thản nhiên với những con số 9, 10 và hờ hững với tấm bằng khen ‘giỏi’ mà chúng đạt được. Hè về, cháu tôi mừng vì được ‘giải thoát’ khỏi áp lực sách vở ít nhất là một tháng để về quê Nội chơi đùa với chúng bạn, tắm suối làng kênh quê bốn mùa tươi mát chứ không khô khan như những con số không biết nói và những bài thuộc lòng nằm yên trong sách giáo khoa…Một đứa bé 10 tuổi có nhận xét vậy về hệ thống giáo dục của mình như thế thì người lớn chúng ta nên suy nghĩ thế nào đây?

Có thể nói không quá rằng, nền giáo dục của chúng ta, so với thế giới thì quá tụt hậu rồi mà so với chính mình cùng lạc hậu hơn giai đoạn trước. Thời ấy, tôi còn biết vui mừng với tấm giấy khen ‘học sinh giỏi’ để rồi nỗ lực học tốt hơn trong khi cháu tôi tỏ thái độ thờ ơ, thản nhiên và hờ hững với tấm giấy khen ‘học sinh giỏi’. Hiện tượng khen thưởng ồ ạt do hiệu ứng của 'bệnh thành tích' hẳn không đủ sức lửa để truyền cho học sinh một niềm đam mê trong học tập. Đây chính là nỗi đau cho những ai quan tâm đến nền giáo dục hiện tại của Việt Nam.

NGÀY CHỦ NHẬT


Ngày chủ nhật, thú nhất là ngủ nướng...nướng đến lúc mây không còn đủ sức bênh vực che được ông mặt trời chói chang của mùa Hè đổ lửa thì mới chịu dậy...Thấy cảnh vật bình yên và dễ chịu quá, thế là 'chụp' vài kiểu đây:

Dường như cây, lá, chim chóc đều làm việc từ rất sớm chứ không 'ngủ nướng' như mình. Trời xanh cao, mây trắng vắt ngang lưng trời dịu dàng, hoa đua nở, gió thì thầm hát ca.

Chim ríu rít, líu lo...dường như chúng nó cũng đang có 'hội thảo' gì thì phải. Chúng chỉ 'trao đổi' hài hòa với giọng lảnh lót, chứ không gây lộn om sòm như mỗi sớm tinh sương thường ngày. Tiếc một nỗi, chúng ẩn mình sau tàng cây neem tỏa rộng nên không thể nhìn thấy, chỉ có nghe thôi.


Lá cây cũng biết thi nhau làm duyên trước ống kính...


Hoa lá thản nhiên trong nắng Hè.


Cái nắng của mùa Hè không làm giảm vẻ đẹp của thiên nhiên!


Khả năng thích nghi với môi trường của cỏ cây hoa lá thật đáng cho chúng ta học hỏi.