Saturday, April 12, 2014

TRÍ TUỆ TÂM LINH Vs. TÔN GIÁO

Muốn hiểu “trí tuệ tâm linh”, chúng ta cần hiểu hai từ “tâm linh” và “trí tuệ”. Từ “tâm linh”, nói như Trần Đình Hoành,  là “trái tim linh thiêng” của mỗi chúng ta. Tức là các tầng sâu thẳm của trái tim ta mà nhiều khi ta chưa khám phá đến. Như vậy, ta tạm hiểu rằng, tâm linh nằm trong bản chất sâu thẳm của lương tâm con người, là phần tinh túy nhất, uyên nguyên nhất, thể hiện bản chất thiện lành nhất của một con người.
Còn trí tuệ, diễn đạt một cách đơn giản nhất, là kỹ năng sử dụng những gì chúng ta biết theo cách đúng nhất, đúng nơi đúng chỗ nhất, đúng thời điểm nhất với một mục đích đúng nhất.
Nói đến trí tuệ tâm linh là nói đến động cơ thiện lành sâu thẳm từ trong tâm làm nền tảng cho thái độ sống, cách sống, cách thể hiện mình trong mối liên kết với thế giới và con người một cách hợp lý nhất (hợp lý về nội dung, nơi chốn, thời điểm, mức độ và mục đích).  Nói cách khác, trí tuệ tâm linh là trí tuệ mà qua đó, chúng ta thể hiện được ý nghĩa cuộc sống, mục đích sống với động cơ thánh thiện nhất xuất phát từ nơi sâu thẳm nhất của tâm mình.
Người ta hay nhầm lẫn tâm linh với tôn giáo, vì tất cả tôn giáo chân chính đều lấy tâm linh, trái tim linh thiêng của con người, làm gốc.  Tôn giáo chân chính và đúng đắn tất nhiên có vai trò hướng con người phát triển trí tuệ tâm linh. Người theo tôn giáo đúng nghĩa phải là nhà giáo dục tâm linh.
Tuy nhiên, trong tôn giáo, ngoài cốt lõi là tâm linh, hệ thống tôn giáo còn có thêm nhiều yếu tố khác, vốn không thuộc về tâm linh như: nghi lễ, tượng ảnh, thờ phượng, kinh sách, lễ phục, lễ đường, hệ thống quản lý và cả quyền lực, tiền bạc, đoàn thể và nhiều thứ khác nữa. Những thứ này không phải là tâm linh, nhưng không thể thiếu trong tôn giáo. Nếu tôn giáo nào hoặc người tu thuộc tôn giáo nào thiên về các yếu tố tôn giáo không thuộc về tâm linh thì tôn giáo ấy, người tu ấy càng xa tâm linh.
Như vậy, từ “tâm linh” trong trí tuệ tâm linh không nhất thiết có mối liên hệ nào với tôn giáo cả. Có người có chỉ số trí tuệ tâm linh cao nhưng lại không theo một tôn giáo nào cả, khi họ biết đánh động lương tri thánh thiện, lấy đó làm nền tảng để sống và cư xử với mọi người nhưng không khép mình vào một khuôn khổ tôn giáo nào. Ví như có người tự nguyện sống theo 5 nguyên tắc đạo đức căn bản mà Đức Phật dạy cho người cư sĩ tại gia (không giết người, không trộm cắp, không ngoại tình, không nói sai sự thật, không uống rượu và các chất gây say) vì họ thấy được lợi ích từ nếp sống này, nhưng họ không quy y để trở thành một phật tử vậy.  Ngược lại, có người rất sùng đạo mà có chỉ số trí tuệ tâm linh thấp, khi họ thiên về các phương diện khác của tôn giáo mà không đặt nền tảng vào tâm linh bên trong. Ví như người đi chùa lễ lạy, cầu nguyện mà không hướng đến một đời sống tích cực, thiện lành từ lương tri thánh thiện của mình vậy.
Trí tuệ tâm linh là một kỹ năng sống trong đó, chúng ta biết đánh động phần sâu thẳm nhất, linh thiêng nhất trong tâm của mỗi người để sống khiêm tốn vô điều kiện, thành thật vô điều kiện và thương yêu người vô điều kiện, góp phần xây dựng và phát triển thế giới ta sống ngày càng tươi đẹp mà không có một điều kiện nào.

Sunday, March 23, 2014

Gian dối hồn nhiên... (đọc báo)

Mình có đầy ắp ý tưởng và chứng cứ để viết về sự gian dối khi đang "sống chung với lũ" và chứng kiến sự gian dối mỗi ngày, sự gian dối có hệ thống, gian dối "liên thông", thậm chí gian dối có chỉ đạo nữa, nhưng chưa rảnh. Tình cờ, trong khi lục tìm trong kho tài liệu máy mình, thấy có bài này của GS. Hồ Thiệu Hùng, chia sẻ trước. Mình sẽ viết về đề tài này khi nào có thời gian.

Xin kể một câu chuyện thật đã xảy ra với một đứa bé 8 tuổi, học lớp 3 ở một trường tiểu học. Bé có cha mẹ đều là giáo viên - công nhân viên một trường học.

Một hôm bé đi học về mếu máo đòi mẹ cho tiền. Mẹ hỏi con còn nhỏ, cần tiền làm gì thì bé trả lời: “Bạn con đi học đứa nào cũng có tiền, cứ giờ chơi là chạy đi mua quà ăn, chỉ con là không có tiền, con thèm quá hà!”.  Bà mẹ từ chối cho con tiền nhưng đã ứng xử rất hay là sáng nào cũng dậy sớm, chuẩn bị một món ăn vặt gói sẵn đặt vào cặp của con để con ăn trong giờ ra chơi. Đứa bé từ đó không mè nheo đòi tiền nữa.

Nhưng một hôm dọn dẹp cặp của con, bà mẹ phát hiện thấy trong một cuốn tập có hơn 300.000 đồng. Hốt hoảng, bà truy xem số tiền này từ đâu con có, có ăn cắp của ai không. Đứa bé khóc, một mực thề với mẹ là không hề ăn cắp của ai vì mẹ và cô đều dạy ăn cắp là xấu lắm. Giải thích về nguồn gốc số tiền, bé nói: “Con làm lớp trưởng, cô giao con một cuốn sổ để ghi tên bạn nào vi phạm nội quy. Bạn nào lỡ vi phạm nội quy mà muốn khỏi bị ghi tên thì phải đưa cho con mười ngàn chớ con có ăn cắp của ai đâu”.

Câu chuyện gian dối của đứa trẻ này khiến ta giật mình. 8 tuổi, một đứa bé đã biết cậy quyền lớp trưởng, lừa cô giáo để thu vén cho mình. 8 tuổi, bạn bè bé đã biết đút lót cho người có chức, có quyền. Trường không dạy kiểu sống này, cha mẹ cũng không. Các bé học “khôn” này từ đâu? Từ ngoài xã hội. Bé bị nhiễm độc một cách thường xuyên từ xã hội nên hành động gian dối một cách... hồn nhiên. Bây giờ là 10.000 đồng mỗi lần dùng quyền lớp trưởng để làm tiền, sau này vào đời sẽ thành bao nhiêu mỗi lần nhận hồ sơ của dân hay đặt bút ký vào dự án? Bây giờ đút lót 10.000 đồng cho mỗi lần vi phạm nội quy nhà trường, sau này vào đời là bao nhiêu cho mỗi lần phạm luật, phạm pháp? Và còn nhiều điều khác nữa có thể suy gẫm từ câu chuyện này.

Gian dối, ai cũng biết đó là xấu, từ vị quan chức đạo mạo rao giảng đạo đức cho dân chúng đến các bậc cha mẹ chỉ là thường dân. Người còn chút ít lương tâm thì khi buộc phải gian dối còn thấy áy náy, cảm thấy cắn rứt; kẻ không còn lương tâm thì gian dối dễ dàng như hít thở. Triết lý sống “phải đạt mục tiêu bằng mọi giá” đã triệt tiêu tính trung thực, giết chết lương tâm của nhiều, rất nhiều người ở các địa vị, ngành nghề khác trong xã hội.

Đề án cải cách toàn diện và cơ bản giáo dục đào tạo nên đưa nội dung giáo dục tính trung thực thành mục tiêu hàng đầu để cứu thế hệ trẻ. Nhưng quan trọng hơn hết là từng người trong xã hội, nhất là người có chức có quyền, phải sống trung thực, đừng gian dối mà trẻ con hồn nhiên bắt chước theo. Tiêu chí trung thực phải là tiêu chí đặt trên cả tiêu chí trung thành khi lựa chọn cán bộ, công chức.
TS HỒ THIỆU HÙNG
Source:

THA THỨ VÀ HỶ XẢ (Kỳ 2)

Tha thứ và hỷ xả (Kỳ 1)
Kỹ năng tha thứ

Nếu cảm thấy khó buông xả và tha thứ “trọn gói” một lần với người làm khổ ta như buông thẳng một gánh nặng xuống, hãy thử áp dụng một hoặc nhiều trong số các cách sau đây để dần luyện tập cho mình có kỹ năng tha thứ:

1. Hãy gia tâm vào việc buông bỏ
Không đơn giản là trong một giây một phút hay thậm chí một ngày để có thể buông bỏ niềm đau. Bất cứ cái gì một khi đã tổn thương, cần một thời gian nhất định để chữa lành. Do đó, hãy đầu tư tâm lực vào việc này để thay đổi, vì chúng ta thấy đó, niềm đau làm khổ chúng ta. Buông bỏ là cách để chúng ta đặt gánh nặng mà mình cưu mang trong tâm xuống. Việc tự mang vác gánh nặng thế này không có lợi ích gì cho ta cả. Cần phải khôn ngoan để biết thương mình đúng cách: đừng ghi nhớ tội lỗi của người khác nữa.

Thursday, March 20, 2014

THIỆN, MỸ VÀ CHÂN (Kỳ 3)

Tác giả: Bhikkhu Bodhi
Người dịch: Hằng Như
Mỹ
Theo Đức Phật, Thiện hay sự trong sạch về đạo đức là nền tảng, một nền tảng không thể tách rời của chân hạnh phúc. Thế nhưng, để có hạnh phúc thật sự, chỉ một yếu tố Thiện thì không đủ. Để tìm được hạnh phúc bền vững hơn và ở cung bậc sâu hơn, chứ không chỉ thông qua đạo đức thiện lành, chúng ta phải bước thêm một bước nữa. Điều này đưa chúng ta đến thành tố tiếp theo của hạnh phúc, thành tố mà tôi gọi là ‘Mỹ’. Tôi không dùng từ này để chỉ vẻ đẹp cơ thể, hoặc chỉ cho khuôn mặt đẹp hay thân hình dễ thương, mà tôi muốn nói đến vẻ đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn. Trong lời Đức Phật dạy, dấu hiệu chân xác nhất để chỉ cho cái đẹp là vẻ đẹp của tâm.  Chính vì vậy mà A-tỳ-đạt-ma (abhidhamma) dùng các thuật từ sobhana cittas (tâm tịnh hảo) và sobhana cetasikas (tâm sở tịnh hảo) để chỉ cho các trạng thái tâm đẹp và các yếu tố tâm đẹp. Trên con đường đi đến hạnh phúc và bình an,  chúng ta cần khơi dậy các đặc tính đẹp này.

Sunday, March 9, 2014

THÁI ĐỘ ĐÚNG KHI HÀNH THIỀN (1)


Điều quan trọng nhất trong hành thiền, cũng như những hoạt động khác, là thái độ của mình đối với hoạt động này bởi vì thái độ quyết định không chỉ kết quả mà còn nhiều phương diện khác như phương pháp, tiến độ của quá trình hành thiền.
Hành thiền, theo cách nói thông thường, là quá trình thực tập tỉnh thức. Đó là quá trình tập trung, quán sát và ghi nhận một cách khách quan tất cả những biểu hiện và thay đổi, sự sanh khởi và mất đi của tất cả những gì diễn ra trong thân và tâm chúng ta. Tỉnh thức chỉ có mặt khi tâm thật sự an tịnh, các tầng tâm thức sâu thẳm được lắng trong, ta đang ở thế cân bằng nhất, vững chãi nhất, hài hòa nhất về mọi phương diện tâm sinh lý. Tâm sinh lý cân bằng và hài hòa tỉ lệ thuận với mức độ an tịnh và tỉnh thức của tâm. Những hướng dẫn căn bản nhất của các thiền sư là chúng ta nên tránh một số điều sau đây khi tập hành thiền:

Friday, February 28, 2014

THA THỨ VÀ HỶ XẢ (Kỳ 1)

Trong cuộc sống, không lúc này thì khi khác, chúng ta bị người khác làm tổn thương. Chúng ta có cảm giác rằng mình bị đối xử tồi tệ, niềm tin bị mất đi và trái tim chùng lại. Có khi  nỗi đau này không quá lớn, chúng ta ít bị chi phối, song có nhiều nỗi đau đeo đẳng chúng ta trong một thời gian khá lâu. Chúng ta cứ thả dần cho nỗi khổ niềm đau vơi nhẹ và cả một thời gian dài, chúng ta mới có thể để cho niềm đau ra đi.
Điều này gây không ít khó khăn cho chúng ta. Nó không chỉ gây nên sự bất an trong lòng, nó còn làm cho căng thẳng hoặc phá vỡ các mối quan hệ, khiến chúng ta xao lãng trong công việc, gây ảnh hưởng tiêu cực đến công việc của mình và những điều quan trọng khác trong cuộc sống, làm cho chúng ta giảm niềm tin yêu với con người và cuộc sống. Như vậy, chúng ta đã tự chui vào bẫy của vòng lẩn quẩn giận hờn khổ đau và không thể thưởng thức được những điều tươi đẹp vốn rất nhiều mà cuộc sống đang đem lại.

Thursday, February 20, 2014

THIỆN, MỸ VÀ CHÂN (Kỳ 2)

Tác giả: Bhikkhu Bodhi
Người dịch: Hằng Như
THIỆN
Theo lời dạy Đức Phật, điều kiện cần cho chân hạnh phúc là Thiện ở mọi mức độ, đó là đạo đức chân thật hay đức hạnh (sila). Điều thiện như vậy phải được thực hiện bằng hành vi đạo đức. Để có hạnh phúc thật sự, chúng ta cần phải trải nghiệm chân hạnh phúc trong đời sống của mình và phải sống có đức hạnh. Điều này có nghĩa là chúng ta phải theo hành vi tiêu chuẩn trong đó chúng ta cần nghĩ đến lợi ích của người khác trong lời nói và việc làm của mình. Một đời sống đạo đức là đời sống trong đó chúng ta vượt lên trên nhu cầu cá nhân và xem sự quan tâm đến người khác là yếu tố quyết định hành động của mình.