Sunday, December 14, 2008

Tri ân

Hôm nay, ngày tiễn đưa nhục thân Ngoại về với đất...

Xin chân thành cám ơn tất cả mọi người đã quan tâm thăm viếng, gởi vòng hoa điếu, tụng kinh hộ niệm và tiễn đưa linh cữu Bà chúng tôi về nơi an nghỉ.

Saturday, December 13, 2008

Tin khủng!

Hôm nay, thấy trên vnexpress đăng một tin giật cái tít là “Mỗi ngày một triệu trẻ em hứng chịu bạo lực học đường”, tôi giật mình!

Tôi giật mình vì không phải số lượng ‘một triệu trẻ em chịu bạo lực mỗi ngày” mà giật mình vì con số chính xác như vậy, lấy đâu ra? Đọc vào nội dung, tôi chẳng tìm thấy con số MỘT TRIỆU ở đâu cả. Phóng viên có dẫn lời nói của ông Pierce rằng “Giám đốc Tổ chức Plan tại Việt Nam Mark T. Pierce cho biết, bạo lực trong trường học hiện khá phổ biến và ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em, tước đi cơ hội để các em phát triển bình thường và khỏe mạnh.”

Đúng rồi! một trường hợp bạo hành học đường, tùy theo mức độ, có ảnh hưởng đến một lớp, một khối lớp hay cả một trường, nên ông giám đốc Plan phát biểu vậy là đúng. Ông chỉ nói đây là trường hợp phổ biến và có ảnh hưởng đến số đông (hàng triệu) trẻ em, thế mà phóng viên viết lại bằng con số xác định như thế. Blah! Blah! Hết biết! Hơn nữa, theo chỗ tôi hiểu, 'hứng chịu bạo hành' có nghĩa là 'trực tiếp bị bạo hành' thì cái tít bài đã không phản ánh đúng nội dung ông giám đốc Plan phát biểu rồi. Lại thêm 'mỗi ngày' nữa chứ! Nghiên cứu, khảo sát nào cũgn thực hiện trên một khoảng thời gian nhất định, nhưng không thể mỗi ngày được. Việc bạo hành trường học xảy ra, dù nhiều và phổ biến, cũng không thể tính bao nhiêu em bị bạo hành trong mỗi ngày được. Tôi thiết nghĩ, ngôn ngữ nghiên cứu cần rõ ràng và không thể hiểu nhiều nghĩa cho một câu phát biểu có tính chất như một 'finding' thế này.

Theo những thông tin tôi đọc được, từ năm 2003 đến nay, tổ chức Plan làm nghiên cứu ở nhiều nơi trên khắp đất nước Việt Nam, cũng như nhiều quốc gia khác. Thường thì người ta chọn theo địa hình địa lý: Bắc-Trung-Nam hoặc đồng bằng-cao nguyên-miền núi, hoặc thành phố-nông thôn. Phương pháp họ sử dụng thường là khảo sát cộng đồng lớn (survey) với các câu hỏi (questionnaire) và tổng kết tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trên tổng số cá thể họ chọn để nghiên cứu có ý kiến này hay ý kiến khác. Từ đó, họ có thể tổng quát hóa và khái quát hóa khi giả thuyết rằng số cá thể chọn ra nghiên cứu có thể đại diện cho toàn thể cộng đồng. (Vì vậy, phương pháp nghiên cứu nào cũng chỉ có giá trị tương đối thôi.)

Thấy con số cụ thể về trẻ em (mà không phải tỉ lệ phần trăm) tôi e không chính xác vì số liệu nghiên cứu về 'trẻ em' nhất thiết phải thuộc nhóm tuổi nào trong các nghiên cứu của Plan chứ. Rõ ràng trong bài viết này, tôi không thấy phóng viên trưng dẫn kết quả nghiên cứu nào của Plan với con số thống kê (dù là tỉ lệ hay số lượng) mà sao lại có một câu kết luận chắc nịch và giật thành tít của bài báo như thế nhỉ?

Friday, December 12, 2008

Nguyên nhân suy tàn

Nói về sự suy tàn của Phật giáo trên đất nước Ấn Độ, theo Ngài Dalai Lama (mà Ngài nói với người phỏng vấn rằng, đây là quan điểm của một tác giả trong cuốn sách mà người ấy gởi cho Ngài), có ba nguyên nhân chính. Thứ nhất, những người ủng hộ đạo tràng ngày càng có chiều hướng nghiêng về các truyền thống phi Phật giáo. Thứ hai, những thế lực bên ngoài như Hồi giáo và các thế lực khác cố tình hủy diệt Phật giáo. Thứ ba, chính các tu viện và người xuất gia đã trở nên giàu có và ky cóp nhiều vàng bạc dưới danh nghĩa của kinh luận. Thật ra, những người này đã sa đọa trong rượu chè và sắc dục. Những chuyện như thế đã xảy ra. Cho nên dân chúng mất niềm tin, có người oán ghét các người tu và không còn tin tưởng những người xuất gia nữa. (The Story of Tibet: Conversations with the Dalai Lama, do Thomas Laird biên soạn, trang 94).

Để trả lời câu hỏi, phải chăng những cuộc tấn công của Hồi giáo là nguyên nhân suy tàn của Phật giáo trên đất nước Ấn Độ không, đức Dalai Lama đã trả lời như thế. Tôi tin rằng, bây giờ, nếu có ai hỏi về nguyên nhân suy tàn của Phật giáo nói chung hay ở bất cứ một nơi nào, Ngài cũng sẽ trả lời tương tự vì vấn đề này đã quá rõ. Một tôn giáo suy tàn tất nhiên do tác động từ bên ngoài cũng như mục ruỗng từ bên trong, trong đó, các yếu tố nội bộ đóng vai trò quyết định hơn. Với Phật giáo, yếu tố bên trong là tăng ni xuất gia và cư sĩ tại gia. Nếu hai thành phần này ung thối thì không có thế lực nào khác có thể chống đỡ ngôi nhà Phật pháp được.

Ở trang tiếp theo (trang 95), Ngài khẳng định “Tôi nghĩ rằng trường hợp của người Tây tạng cũng tương tự như trường hợp của người Ấn, có khuynh hướng đi tìm kiếm những nguyên nhân bên ngoài. Khuynh hướng nhìn vào những thế lực bên ngoài đã ăn sâu vào tâm thức con người và rất khó loại bỏ. Chúng ta chẳng thể làm được gì nhiều đối với những người khác, đối với các thế lực bên ngoài. Nhưng chính chúng ta, nếu không hành trì, không giữ gìn giới luật cho tinh nghiêm thì tôn giáo của mình sẽ trở thành đạo đức giả. Đây là một sự thật. Đây cũng chính là lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ và Tây tạng.”

Có những sự thật ai cũng biết mà cần có người nhắc thì mình mới ‘tỉnh’ ra! Về các nguyên nhân gây nên sự hủy diệt của Đạo Phật cũng như tâm lý cho là ‘chỉ do thế lực bên ngoài’ của người trong đạo không phải chúng ta không biết. Vả lại, không chỉ Ngài Dala Lama mà trước đó, nhiều tác giả như Kanai Lal Hazra hay Träumereien eines Denker cũng nói đến vấn đề này rồi. Tuy nhiên, có người nhắc thì ý tưởng này được hâm nóng một lần nữa. Điều quan trọng là, nếu chúng ta xác định ‘mình là người đạo Phật’ thì mình là đối tượng nào và nên làm gì? Nếu là cư sĩ phật tử, mình có chiều hướng nghiêng về các truyền thống phi Phật giáo không? Liệu mình đã hiểu đúng và nắm được cốt lõi của tôn giáo mình chưa? Nếu mình là người xuất gia, mình có đang trở nên giàu có và ky cóp nhiều vàng bạc và bắt đầu có cuộc sống sa đọa mà xa rời mục đích của người xuất gia không?

Những ai là ‘người Đạo Phật’ có thể trả lời được câu hỏi này mà cảm thấy thanh thản trong lòng thì tôi tin chắc rằng, người ấy, nếu không có thể làm gì để góp phần xiển dương Phật pháp, cũng không góp phần hủy hoại tôn giáo đã khơi thông nguồn mạch tâm linh và nuôi dưỡng thiện căn của mình. Thế nhưng, thế nào gọi là 'phi Phật giáo', là ‘ky cóp nhiều’ và sao gọi là ‘sa đọa’ thì mỗi người có định nghĩa và tiêu chuẩn riêng cho mình tùy vào mục tiêu và nỗ lực của từng cá nhân vậy.

Thursday, December 11, 2008

Tro tàn

5.30 pm hôm nay, Ngoại trút hơi thở cuối cùng.
Tôi nhớ đến bài ‘White Ashes’ của Rennyo (1414-1499) nên dịch post lên đây như là một sự nhắc nhớ
:


Khi tôi trầm tư về bản chất thay đổi của cuộc sống con người, tôi nhận ra rằng, từ lúc bắt đầu đến khi chấm dứt, cuộc sống vô thường, khác nào ảo ảnh phù du. Chúng ta chưa thấy người nào có thể sống một vạn năm. Cuộc đời chóng vánh làm sao!



Ai trên đời này có thể sống khỏe mạnh đến 100 tuổi? Cuộc sống qua mau. Không biết được tôi sẽ chết trước hay người khác ra đi trước. Ta cũng không biết cái chết đến với mình hôm nay hay ngày mai, chỉ biết rằng, một ngày nào đó, ta sẽ giã từ cuộc sống. Cuộc sống lướt nhanh, như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ.

Do vậy, khuôn mặt chúng ta rạng ngời trong sớm mai, chiều xuống đã hóa thành nắm tro tàn. Một khi ngọn gió vô thường thổi qua, mắt ta nhắm lại, hơi thở ra đi vĩnh viễn. Rồi khuôn mặt rạng ngời ấy đổi màu, sắc diện tươi tắn đầy sức sống như hoa đào rộ nở giờ còn đâu. Gia đình và người thân quây quần than khóc, có được gì đâu? Bất lực buông tay, người thân đành đem người đã mất ra cánh đồng, rồi những gì còn lại sau khi thiêu xác là nắm tro tàn sau làn khói vương giữa đêm cô tịch. Câm lặng trĩu buồn không thốt thành lời.

Như thế đấy, bản chất phù du tạm bợ của kiếp sống con người là cái chết đến với tất cả, già cũng như trẻ không hề phân biệt. Do đó, chúng ta nhanh chóng ghi vào tâm trí vấn đề quan trọng nhất trước khi qua kiếp sống sau là một lòng thâm tín vào Đức Phật A Di Đà, và không quên niệm danh hiệu Ngài.

Thành kính,


Đây là bản dịch tiếng Anh (từ tiếng Nhật) của Hisao Inagaki và các cộng sự:

“When I deeply contemplate the transient nature of human life, I realize that, from beginning to end, life is impermanent like an illusion. We have not yet heard of anyone who lived ten thousand years. How fleeting is a lifetime!

Who in this world today can maintain a human form for even a hundred years? There is no knowing whether I will die first or others, whether death will occur today or tomorrow. We depart one after another more quickly than the dewdrops on the roots or the tips of the blades of grasses. So it is said.
Hence, we may have radiant faces in the morning, but by evening we may turn into white ashes. Once the winds of impermanence have blown, our eyes are instantly closed and our breath stops forever. Then, our radiant face changes its color, and the attractive countenance like peach and plum blossoms is lost. Family and relatives will gather and grieve, but all to no avail? Since there is nothing else that can be done, they carry the deceased out to the fields, and then what is left after the body has been cremated and has turned into the midnight smoke is just white ashes. Words fail to describe the sadness of it all.

Thus the ephemeral nature of human existence is such that death comes to young and old alike without discrimination. So we should all quickly take to heart the matter of the greatest importance of the afterlife, entrust ourselves deeply to Amida Buddha, and recite the nembutsu. Humbly and respectfully.”

Bạo hành trẻ em

Mỗi lần đọc tin, thấy chuyện trẻ em bị bạo hành là tôi cứ nhớ lại những chuyện bạo hành học đường như thế hồi tôi còn bé…

Những chuyện như vậy không phải đến bây giờ mới xảy ra. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, cô giáo vẫn thường đánh và phạt học trò. Trong các thầy cô giáo dạy tôi hồi cấp I, cô Vu dạy lớp 1 là đáng sợ nhất. Hình phạt đánh hay vặn tai thì cô áp dụng cá nhân còn phạt thì cả lớp cùng lãnh đòn dù chỉ một vài cá nhân gây ra. Hình phát phổ biến nhất là bắt cả lớp đứng trong thời gian khá lâu, đôi khi quỳ trên ghế. Còn ngậm thước kẻ hay giơ hai tay ‘đầu hàng’ được 'ưu tiên' áp dụng thường xuyên hơn. Có hôm có thầy hiệu phó đi ngang, chúng tôi được ‘giải cứu’ sớm hơn thời hạn. Nhiều hôm, giờ ra chơi, chúng tôi có dịp cười lăn cười lộn khi lắm đứa bỗng dưng có râu vì vấy mực khi ngậm thước kẻ. Vui nhất là mình thấy mặt người khác mà không tự thấy mặt mình, nên cứ ‘tự tin’ mà cười bạn. Đến khi nghe “mặt mi cũng lem nhem chứ có thua ai đâu” mới tiu nghỉu, mặt mày bí xị, lo mà ‘cạo râu’ bằng cách kỳ cọ đến đỏ da. Những hình phạt đó cứ theo tôi suốt tận bây giờ. Không sao quên được. Hồi đó, suy nghĩ của chúng tôi chưa đủ lớn để có thể nghĩ gì, nhưng hầu hết học trò trong lớp, đứa nào cũng ghét cô giáo cả. Bản thân tôi có đêm mất ngủ chỉ vì cô đánh một bạn ngồi bên cạnh. Trời đất ạ, trẻ em mà bắt ngồi im như thóc thì có nước người mụ mị thêm ra. Tinh nghịch một chút thì ăn đòn thường xuyên mới ác chứ! Trẻ con mà, đòn thì cũng sợ mà bảo không nghịch không chơi thì chết mất!

Có một lần, thằng Nghĩa ngồi gần tôi bị đòn, trận đòn mà tôi còn nhớ như in trong tâm trí đến tận giờ này. Đơn giản là hôm đó, trong giờ học, nó đứng dậy, trườn người về phía bàn trước, đưa hai hòn bi chai cho thằng Nam, nói “mi cất giùm hai hòn bi, chút nữa, hai đứa mình chơi. Túi quần tao bị lủng mất.” Hồi đó, bọn con nít tụi tôi cái gì cũng cười được. Nghe thằng Nghĩa nói cái túi quần lủng mà mấy đứa bên cạnh (có cả tôi) cười rúc rích, đủ để cô giáo đang viết bài trên bảng, quay xuống lườm mắt. Chưa nín ngay được, vài đứa còn khúc khích, thế là cô đi ngay đến chỗ bàn tôi ngồi. Cô hỏi “em nào?”. Với cô, la rầy đánh đập là "chuyện thường ở huyện", nên khi nghe hỏi gọn lỏn "em nào?", chúng tôi đứa nào cũng hiểu "em nào gây mất trật tự trong lớp?". Thằng Nghĩa vội vàng đứng lên nhận tội “dạ em!”. Sẵn cây thước trong tay, cô nện cho nó hai phát thẳng tay, miệng cô quát “dạ em! dạ em!” Thằng Nghĩa mặt cắt không còn giọt máu. Nó đau quá, đưa tay ra sau che mông, cô nện cái thứ ba, không quên rít qua kẽ răng “dạ em!” rồi quay ngoắt đi lên như không xảy ra chuyện gì. Thước cô nện vào mu tay thằng Nghĩa đau quá, nó vẩy vẩy tay trong không khí, miệng rên rỉ “đau quá! đau quá!”, tôi thấy thương nó vô cùng. Chúng tôi ngồi im thin thít. Từ đó đến giờ ra chơi, tôi không biết cô giảng gì nữa. Đêm đó, tôi, một con bé 6 tuổi, không sao ngủ được. Hình ảnh cô giáo, giọng cô rít lên giận dữ, hình ảnh thằng Nghĩa vẩy tay lẩy bẩy, mặt tái mét hằn trong tâm trí tôi.
Sau này lớn lên, mỗi lần nghĩ lại cách hành xử phi giáo dục này của cô giáo lớp 1, tôi buồn kinh khủng. Mới bước vào lớp 1, lớp đầu tiên trong môi trường học đường, cô giáo đã sử dụng những biện pháp hình phạt làm tổn thương đến thể xác và tinh thần bọn trẻ con chúng tôi như vậy thật không thể tưởng tượng nổi. Thằng bé biết mình có lỗi, ngoan ngoãn đứng lên nhận lỗi liền mà bị đánh như thế đó, vậy cái tâm của người lớn, đừng nói là người làm công tác giáo dục, cất ở đâu mất rồi?

Thầy cô sử dùng hình phạt đánh đập, dọa nạt, la mắng nặng lời với học sinh, liệu có bao giờ nghĩ rằng những hành vi ấy sẽ theo suốt cuộc đời của những đứa trẻ bị bạo hành ấy không? Tôi viết ra câu chuyện của mình hơn 30 năm về trước từ trong ký ức nguyên vẹn của mình đủ thầy nó hằn thế nào trong tâm hồn non nớt của tuổi thơ. Không những tôi, bạn bè lớp tôi, nhiều đứa vẫn còn nhớ câu chuyện này. Cách đây hai năm, tôi có duyên gặp lại mấy đứa, tụi nó còn nhắc lại, chuyện cô giáo Vu hay đánh học trò và chúng tôi thường xuyên ‘mọc râu’, cũng có đứa nhắc lại chuyện thằng Nghĩa, cả bọn nhao nhao giành nhau kể rồi cười...

Gần đây, chúng ta thấy nạn bạo hành học đường ngày càng nhiều. Điều này không có nghĩa trước đây tình trạng này ít hay không có. Chẳng qua, hiện nay, những câu chuyện bạo hành trở nên lan rộng hơn là nhờ truyền thông và công luận. Thế nhưng, những câu chuyện trên báo chỉ cũng chỉ là đại diện như tảng băng trên mặt nước thôi. Phần chìm khuất còn nhiều hơn và đáng nói hơn. Biết bao nhiêu chuyện bạo hành trường học đau lòng khác xảy ra ở nhiều nơi mà không được can thiệp hay biết đến qua các phương tiện truyền thông.

Từ năm 2003 đến 2005, UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc) cùng với CPFC (tổ chức bảo vệ trẻ em Thụy Điển và kế hoạch quốc tế) đã làm nhiều nghiên cứu về bạo hành đối với trẻ em ở Việt Nam. Một trong số các nghiên cứu đó là khả sát trên 2800 trẻ em ở ba tỉnh An Giang, Lào Cai và Hà Nội. Kết quả cho thấy rằng, bạo hành trẻ em ở gia đình và nhà trường rất phổ biến tại Việt Nam.

Các tổ chức này đã công bố số liệu nghiên cứu mới nhất về “Trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam” được thực hiện bằng cách khảo sát ý kiến 499 trẻ em và 306 người lớn. Kết quả cho thấy có 94% trẻ tham gia khảo sát cho biết bị phạt thân thể và tinh thần tại nhà; 93% trẻ em cho biết bị phạt ở trường. Hình phạt nhẹ là bị mắng chửi, nặng là bị đánh vào cánh tay, bàn tay, vào mông. Ngoài ra còn nhiều loại hình phạt không roi vọt như đứng im ngoài trời, úp mặt vào tường, đuổi ra khỏi lớp, bị phạt quỳ.

Như vậy, bạo hành trẻ em thời nào cũng vậy, có khác gì đâu. Hơn 30 năm trước, chúng tôi cũng bị đòn như các cháu bây giờ. Về tình hình đáng buồn trong giáo dục này, ông Phó Cục trưởng Cục Nhà giáo (Bộ GD-ĐT) Trương Đình Mậu thừa nhận rằng “gần đây, tình hình bạo hành học đường xảy ra ngày càng phổ biến; không chỉ riêng mầm non mà cả ở phổ thông. Qua thu thập ý kiến, cũng có luồng cho rằng, bạo hành bắt nguồn từ áp lực công việc: chỉ tiêu giờ lên lớp đều "đội" lên nhưng chế độ đãi ngộ thấp.” Tôi không nghĩ đó là nguyên nhân chính của việc dùng hình phạt làm tổn thương đến thể xác cũng như tinh thần các em như thế. Đây là vấn đề thiếu chuyên môn sư phạm của thầy cô giáo, là đạo đức nghề nghiệp yếu kém của những người làm công tác sư phạm. Cá thầy cô đứng lớp có biết rằng, nhân cách căn bản của con người định hình trong những năm đầu đời của trẻ và thầy cô giáo là người có trách nhiệm định hướng và tác động lớn đến quá trình hình thành và nhân cách cho các em không? Tôi thấy đây không chỉ là vấn đề đạo đức của người thầy mà liên quan đến chuyện rèn luyện kỹ năng sống của mỗi người trong xã hội chúng ta. Nếu cứ dùng hình phạt như thế rồi đổ lỗi áp lực này, áp lực nọ, thì làm sao có thể trang bị cho các em kiến thức và kỹ năng sống vững vàng đây?!

Wednesday, December 10, 2008

Tình ca (Phạm Duy-Thái Thanh)


Tỉ lệ bỏ học chỉ có 1%: Ai mà tin được? (đọc báo)

Hôm nay, đọc báo, thấy tác giả bài này DÁM nghi ngờ Bộ Giáo dục (Ông dám viết: 'ai mà tin')!!! E rằng nội dung này sẽ không còn trong nay mai, xin về đây làm tài liệu vì có vài con số thông kê 'thật' và 'ảo' trong bài viết.


http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/817781/
06:44' 10/12/2008 (GMT+7)


- Ngành giáo dục đang chú ý đến khảo thí và kiểm định chất lượng, song cũng cần phải kiểm định số lượng sao cho chính xác minh bạch để có được sự nhất trí tin tưởng của cả xã hội và quốc tế. Nếu tuyên bố tỉ lệ bỏ học dưới 1% thì có nghĩa là tỉ lệ bỏ học ở nước ta gần bằng tỷ lệ của Singapore. Điều này khó mà tin được!
"Khất" chiến lược giáo dục do thống kê chưa chính xác
Ngành giáo dục đang nợ một lời giải thích
Xóa mù chữ cho người trên 36 tuổi chẳng để làm gì?
Điều chưa nói từ con số thống kê mù chữ


0,94%: chưa rõ ràng!

Sau giờ học các em học sinh THCS xã Tân Hùng - Tiểu Cần, Trà Vinh đi câu cá để giúp gia đình giảm tiền mua thức ăn hằng ngày. Ảnh: Vĩnh TràTháng 3/2008, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển khẳng định: hiện tượng bỏ học năm nào cũng có, nhưng năm nay số học sinh bỏ học có chiều hướng gia tăng đột biến. Tuy nhiên, đến ngày họp báo thường kỳ trong tháng, Bộ lại đưa ra số liệu tỉ lệ HS bỏ học rất thấp so với năm trước. THCS bỏ học giảm 5 lần và tiểu học bỏ học giảm 20 lần.
Hội nghị tổng kết năm học 2007 - 2008 và triển khai nhiệm vụ năm học 2008 - 2009 tại Hải Phòng, Bộ GD-ĐT cho biết, chưa có số liệu thống kê để nói Việt Nam so với các nước khác số bỏ học khá cao.


Ngày 12/11/2008, trên báo Hà Nội Mới, với câu hỏi "Trên thực tế, con số học sinh bỏ học là bao nhiêu" Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển trả lời: Cụ thể năm 2006 là 0,92%, năm 2007 là 0,9%, năm 2008 là 0,94%, tương ứng với khoảng 150.000 HS bỏ học trong tổng số 16 triệu HS các cấp.


Theo tôi, câu trả lời này chưa rõ ràng ở 2 điểm:


Thứ nhất, tỷ lệ HS bỏ học từ trước đến nay tính theo năm học chứ không phải tính theo năm lịch. Thứ hai, nếu tính theo năm lịch thì còn 2 tháng nữa mới hết năm 2008, mà Bộ đã biết trước tỉ lệ HS bỏ học là 0,94%?


1%: Quá thấp!

Lớp học vắng vì nhiều học sinh đã bỏ học!Trong khi Bộ đánh giá tình hình bỏ học quá lạc quan như vậy thì các Giám đốc Sở GD-ĐT nói gì?


Bà Nguyễn Thị Anh Phương, Giám đốc Sở GD-ĐT Lâm Đồng nhận định: Tình trạng học sinh bỏ học ngày càng nhiều ở nơi này (Tây Nguyên) đang là nỗi lo cho ngành giáo dục và các đơn vị trường học. Đa số học sinh bỏ học là người dân tộc thiểu số và những em có học lực quá yếu.


Ngày 24/11, hội nghị giao ban lần thứ nhất năm học 2008 - 2009 bao gồm 12 Sở GD-ĐT khu vực đồng bằng sông Cửu Long thì tỉ lệ HS bỏ học đầu năm học này tại các tỉnh còn khá cao. Các tỉnh có tỷ lệ bỏ học cao ở cả 3 cấp học là Cà Mau 18,67%, An Giang: 14,34%, Bạc Liêu 13,23%, Hậu Giang: 10,19%. Nguyên nhân tỉ lệ HS yếu kém không theo kịp chương trình phải bỏ học là 40%.


Ông Nguyễn Văn Quang, Giám đốc Sở GD-ĐT Vĩnh Long thừa nhận: Căn cứ vào số liệu hàng năm, tỉ lệ bỏ học chiếm khoảng 6% trong khi năm nay, chỉ mới thống kê ở những tháng đầu năm học đã chiếm 4,43% chắc chắn đến cuối năm, thống kê con số này sẽ còn tăng lên nữa. Chúng tôi đã làm quyết liệt nhưng không thể rút nhỏ lại con số này được. Xin nói thêm, Vĩnh Long là một tỉnh giáo dục đào tạo phát triển cao ở ĐBSCL.


Căn cứ vào thực tiễn của tình trạng HS bỏ học hiện nay và căn cứ vào thống kê về tỉ lệ HS bỏ học mấy chục năm qua, tôi thấy rằng Bộ công bố tỉ lệ HS bỏ học các cấp dưới 1% là quá thấp, không đúng với thực trạng giáo dục hiện nay.


Điều này trái với nhận định của nhiều địa phương, của nhiều cán bộ giáo viên trong ngành và báo chí quan tâm tới giáo dục.


Ví du, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Kế Hào, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học cũng đã viết: "mỗi năm nước ta có 1,2 triệu HS bỏ học". Tôi cũng đồng thuận với ý kiến này, đánh giá của bà giám đốc Sở GD-ĐT Lâm Đồng và của ông giám đốc Sở GD-ĐT Vĩnh Long... đã nêu ở trên và xin dẫn chứng thêm vài điểm sau:


Chưa năm nào dưới 5%


1. Theo dõi tình hình HS bỏ học mấy chục năm qua thì chưa có năm nào nước ta có tỉ lệ HS bỏ học dưới 5%. Vì khuôn khổ của bài viết, tôi chỉ xin nêu vài dẫn chứng sau: Cách đây 10 năm, năm học 1996 - 1997: tỷ lệ HS bỏ học bậc tiểu học là 6,42%, cấp THCS là 8,08%, cấp THPT là 4,81%.


Năm học 1999 - 2000, tỉ lệ HS bỏ học ở tiểu học là 4,67%. Đây là năm học hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đạt chuẩn quốc gia nên có tỉ lệ HS bỏ học thấp, số HS đến trường đạt cao nhất trong những năm qua (10.063.025 học sinh), tỉ lệ HS bỏ học ở cấp THCS là 8,51%, ở cấp THPT là 7,68%.


Cũng theo thống kê của Bộ, tỉ lệ HS trung học bỏ học năm 2003 - 2004 là 6,29%, năm học 2004 - 2005 là 7,59%, năm học 2005 - 2006 là 6,59%. Tính trung bình hơn 10 năm học quả, tỉ lệ bỏ học của HS tiểu học là khoảng 5%, THCS là 8,5%, THPT là gần 4%. Như vậy, số HS bỏ học hàng năm trên dưới 1 triệu em.


2. Nếu tỉ lệ HS bỏ học giảm một cách đột biến như Bộ công báo thì số HS tới trường phải tăng lên. Nhưng mấy năm qua, số HS tiểu học giảm 3 triệu em, số HS THCS cũng liên tục giảm gần 1 triệu em. Cụ thể, số HS THCS 2004-2005 có 6792000 HS, năm học 2007-2008 còn 5740000 học sinh. Số HS THPT cũng bắt đầu giảm. Cụ thể, năm học 2006 - 2007 có 3111280 học sinh, năm học 2007-2008 còn 3052620, giảm 58660 học sinh. Người ta có thể giải thích số học sinh giảm là do kết của phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, nhưng cả nước đã phổ cập đúng độ tuổi đâu? Còn ở các tỉnh giáo dục phát triển thì số HS đi học đúng và gần đúng độ tuổi đã đạt từ lâu rồi. Mặt khác, giả sử 100% HS 6 tuổi đều đến lớp 1 và sau 5 năm đều lên lớp 5 đúng độ tuổi 100% thì số HS tiểu học cũng là 7 triệu (vào lớp 1: 1,4 triệu, lên lớp 5: 1,5 triệu; 1,4 triệu x5 = 7 triệu). Còn THCS đang trong giai đoạn nước rút hoàn thành phổ cập vào năm 2010 mà tại sao số HS lại giảm? THCS đã phổ cập giáo dục đúng độ tuổi đâu.


Tóm lại, số HS giảm chỉ có thể giải thích với lý do chủ yếu là tỉ lệ HS bỏ học ở các cấp còn cao hơn như các thống kê giáo dục của Bộ đã có hàng chục năm qua. Mặt khác, còn nhiều em đang ở độ tuổi học mà chưa đến trường như UNESCO vừa đưa ra con số 1 triệu trẻ "ở ngoài nhà trường".


Ngành ta đang chú ý đến khảo thí và kiểm định chất lượng, song cũng cần phải kiểm định số lượng sao cho chính xác minh bạch để có được sự nhất trí tin tưởng của cả xã hội và quốc tế nếu tuyên bố tỉ lệ bỏ học dưới 1% thì có nghĩa là tỉ lệ bỏ học ở nước ta gần bằng tỷ lệ của Singapore. Điều đó "hổng dám đâu"! Quan trọng hơn là có đánh giá đúng mới có quyết tâm cao và biện pháp đúng để giữ vững và phát triển quy mô giáo dục phổ thông trong thời gian tới.


Nhà giáo Trần Hữu Trù (nguyên chuyên viên cao cấp, Bộ GD-ĐT)

TIN LIÊN QUAN

UNESCO đính chính thông tin HS Việt Nam bỏ học

Nguy cơ bỏ học ở vùng lũ Tây Bắc tăng cao

Trẻ nghèo bỏ học vì tiền không đến đúng đối tượng

Khi nhà giàu “bỏ học”

Số liệu mới nhất: Hơn 147.000 học sinh bỏ học

Kỳ 4: Bỏ học… đi ăn xin

Nghệ An: Học sinh bỏ học sẽ tăng!

Bộ GD-ĐT nói gì về thống kê bỏ học "vênh" thực tế?

Pu Sam Cáp "mùa bỏ học"

Cô không bỏ trò, trò đừng bỏ học

3 điều “kỳ lạ” trong bản thống kê HS bỏ học

SOS: Tình trạng học sinh bỏ học ở ĐBSCL

Bỏ học hàng loạt không hẳn vì khó khăn

Sao lại phạt học sinh nghèo bỏ học?