Sunday, September 28, 2008

ĐI BỘ


Khi đô thị dần xâm thực miền quê, những khu công nghiệp len lỏi vào các vùng đồng quê vốn một thời vắng vẻ. Ngày càng nhiều các xí nghiệp, công xưởng và nhà máy đã đẩy các con đường làng ngõ vắng lùi vào dĩ vãng. Đường liên thôn được bê tông hóa đến tận từng nhà. Thế là, năm này tháng nọ, ngày qua ngày, hầu hết chúng ta hạn chế đi bộ do thói quen thường trực cưỡi trên xe máy hoặc ngồi quá lâu trên chiếc ghế văn phòng.


Dường như, với rất nhiều người, tác dụng tích cực về phương diện sức khỏe từ chuyện đi bộ là lẽ đương nhiên khỏi phải nhọc công bàn cãi. Đi bộ, thậm chí chỉ cần băng qua đường, qua vài lối đi ngắn cũng có thể đem lại nhiều lợi ích– không chỉ cho sức khỏe mà còn bồi bổ tinh thần chúng ta nữa.

Đi bộ, để thấy mình gần gũi với thiên nhiên. Thực tế, ngay cả lúc đi bộ qua nền gạch lát hay bê tông thì mặt đất vững chãi, bằng phẳng và chắc chắn vẫn luôn ở bên dưới đôi chân ta, hỗ trợ và nâng đỡ bước chân ta. Điều này cho ta một cảm giác ấm áp lạ, gần gũi với đất trời và thiên nhiên hơn. Tuy nhiên, nếu có thể để tâm vào trong mỗi bước chân, chúng ta mới có thể cảm nhận điều này. Ngược lại, chân bước mà tâm ngổn ngang bao mối lo với cơm áo gạo tiền, với bao cảm xúc trong lòng không được kiểm soát, thậm chí không được nhận diện, thì trời xanh, mây trắng và đất hiền hòa vẫn là điều gì đó vô cùng xa lạ với ta, dù chúng luôn hiện hữu quanh ta. Đi như vậy, thiền sư Nhất Hạnh gọi là “đi như ma đuổi”. Đi bộ mà ‘đi như ma đuổi’ thì chúng ta nhận được rất ít lợi ích từ việc này. Ngay cả lợi ích về thể lực, đi mà không ý thức bước chân, không điều hòa nhịp thở thì kết quả đạt được rất hạn chế. Còn các phần lợi ích khác, ta bỏ phí mà lẽ ra ta được hưởng trọn vẹn nếu chúng ta biết ‘đem tâm về với thân’ trong từng bước chân thanh thản và nhẹ nhàng.

Đi bộ, con người trở nên cân bằng hơn. Cuộc sống ngày càng hối hả với những dịch vụ có khi tiện nghi ‘đến tận răng’, chúng ta càng nên ưu tiên cho hoạt động đi bộ vốn hiếm dần. Đến một lúc nào đó, liệu đi bộ có trở thành một thứ ‘xa xỉ’ không đây? Đi bộ nhắc nhở mỗi người về cái giai đoạn mọi thứ còn đơn giản, chứ chưa đến nỗi phức tạp như bây giờ. Hãy dành một khoản thời gian thích hợp nào đó trong ngày để có dịp sống với tâm ‘đơn giản’ của mình, dù cuộc sống bề bộn nhiều áp lực.

Đi bộ, là lúc tuyệt vời để ta vận động cơ thể và dành thời gian tích hợp năng lượng vào trong từng tế bào. Trong lúc đi bộ, kinh mạch trong người lưu thông điều hòa hơn. Chúng ta cảm thấy khỏe mạnh hơn, tinh thần sảng khoái hơn để có thể hòa vào dòng chảy tự nhiên bất tận của cuộc đời.

Đi bộ, giúp ta ý thức hơn sự hiện hữu của mình trong từng khoảnh khắc. Thay vì chạy đôn chạy đáo từ nơi này đến chốn khác, thay vì dáo dác đi mà chân không bén đất hoặc cố suy nghĩ xem làm thế nào có thể di chuyển nhanh hơn không, chúng ta tập thanh thản hơn trong từng bước chân. Mỗi một bước chân đặt xuống có thể dẫn đưa chúng ta nhận ra sâu sắc hơn về sự tồn tại của bản thân và những xúc cảm nảy sinh ở chính mình. Trong từng bước chân, chúng ta có thể lắng nghe thân thể và tâm thức mình và nhận ra nhiều điều rất kỳ diệu. Nếu làm việc này thuần thục, chúng ta có thể nhận biết được sự vận hành của tâm thức và sự thay đổi, dù rất vi tế, của cơ thể để điều chỉnh và làm chủ mình trong mọi lúc mọi nơi.

Đi bộ thật khoan thai và chậm rãi chẳng những khiến chúng ta tập trung chú ý tới vị trí, địa điểm thân thể ta đang hướng tới mà còn giúp mình quan tâm thực sự tới hơi thở nữa. Hơi thở là mạch sống, ý thức về hơi thở là ý thức và làm chủ được chính mình. Chú tâm vào hơi thở của mình khi sải chân dạo bộ– hơi thở vào-ra, ngắn-dài– rồi để ý từng bước chân hài hòa cùng nhịp thở là phương cách hữu hiệu và tự nhiên nhất giúp chúng ta dần trở nên tỉnh thức hơn, điềm tĩnh hơn để tinh nhạy hơn trong ứng xử xã hội và giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Càng trở nên tỉnh thức hơn, chúng ta càng nâng cao ý thức rõ ràng về mối liên giữa mình và môi trường xung quanh. Đồng thời, chúng ta bắt đầu nhận thấy rằng, dòng chảy tự nhiên của các cảm xúc cũng như suy tư của mình không thực sự cố định và nó luôn lo nghĩ về tương lại, hồi tưởng về quá khứ và rất ít khi nó biết sống cho hiện tại và ngoan ngoãn hiện hữu cùng với thân đang đều đều nhịp bước.

Đi bộ, là lúc có thể tập hít thở trong tỉnh thức, chúng ta nuôi dưỡng mình trong bình an và tĩnh lặng. Đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ vỡ lẽ ra rằng, đã nhiều lần mình tự đánh mất đi cơ hội sống cho hiện tại nhiệm mầu đang trôi qua trước mặt mình để vào quá khứ. Khi thấy vô lý vì phải bận rộn nhảy tới tương lai, vọt lui về quá khứ, ta sẽ biết cách dừng lại để tận hưởng hiện tại. Khi ấy, những lăng xăng, lo lắng thường xuyên xảy đến trong ngày cứ từ từ biến mất, vì chúng ta ý thức được mình đang sống trong "bây giờ và ở đây".

Một hoạt động đơn giản, dễ dàng và tự nhiên đến mức không cần cố gắng, chúng ta có thể thực hành đi bộ đều đặn mỗi ngày. Điều này giúp chúng ta tạo ra không gian thoáng rộng giao thoa với vũ trụ thiên nhiên, có thêm năng lực để nhận thức chân xác hơn về bối cảnh xung quanh, nơi chính bản thân mình và về sự kỳ diệu ẩn chứa trong trời đất. Mỗi ngày dành ít phút để đi bộ, hít thở đều đặn trong tâm thế tỉnh thức là cách làm đơn giản đưa đến kết quả lớn. Đi bộ giúp chúng ta mở cánh cửa nội tâm lắng dịu hơn để nhìn thấy vẻ đẹp tuyệt vời của thế giới quanh mình.

Saturday, September 27, 2008

ĐỌC HỒI KÝ ÔNG MẠNH

Tối thứ sáu đến trưa thứ bảy, tranh thủ cuối tuần, đọc hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh. Cái hồi ký này vào đầu tháng 9 là hàng ‘hot’ lắm. Khi tác phẩm này ‘mới ra lò’ mà theo tác giả là ‘vô tình bị lộ’, hàng ‘hot’ lại càng ‘hot’ hơn. Sau đó, một số link gỡ xuống, song đến nay vẫn còn nhiều link để nguyên dù tác giả có lên tiếng rằng ông không đồng ý tác phẩm của ông ‘bị’ phát tán bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào.
Tôi kịp có tác phẩm này trước khi đọc được tin ‘cấm vận’ của tác giả qua trang của THD và blog cá nhân của NVT. Thiên hạ lùm xùm kẻ khen người chê, nhưng tôi không đọc ý kiến của ai cả, đơn giản vì tôi chưa đọc tác phẩm này. Tôi không muốn mình có thành kiến nào trong đầu trước khi tiếp cận tác phẩm chính. Gần một tháng, đến bây giờ mới đọc.

Cuốn hồi ký của ông Mạnh dành 120 trang để tự sự về cuộc đời và các hoạt động của tác giả, đúng thế loại ‘hồi ký’. Tuy nhiên, gần hai phần ba cuốn sách (cuốn hồi ký có 303 trang) ông dành để nói về con người, về các đồng nghiệp của ông cùng các sự việc, sự kiện liên quan trong lãnh vực văn chương. Nội dung và cách viết của gần hai phần ba tác phẩm này đã đi chệch thế loại 'ký' rồi.
Cho dù tôi và rất nhiều người khác không am hiểu nhiều về lãnh vực này, chúng ta cũng không cảm thấy xa lạ với những người ‘có mặt’ trong tập hồi ký của ông Mạnh vì chúng ta đã từng “tiêu thụ” các "sản phẩm" của các ông ấy. Tôi không biết mức độ chính xác và trung thực của hồi ký này đến đâu. Cứ cho là 100 % sự thật, tôi rút ra một điều mà mình đã biết từ lâu nay, nhưng giờ thấm hơn; rằng trên sách vở, trên từng trang viết thì mọi thứ đều tốt đẹp. Khi ở ‘ngoài lề’, con người trong văn chương huyền ảo bước ra cuộc sống đời thường khá trần trụi. Việc tác giả dùng những từ ‘nặng ký’ trong giọng văn hằn học có, mỉa mai có, cay cú có… cũng làm toát lên chân dung tác giả viết hồi ký.
Nhìn chệch sang một tí mặt trái, thì mọi con người, dù vĩ nhân, thiên tài…đều có những biểu hiện rất đời thường vì trước khi họ là vĩ nhân, thiên tài, thì họ ắt hẳn phải là con người bình thường trước đã. Nếu cố tình gạt bỏ đi những điều vốn dĩ bình thường đó, thì hẳn là điều “bất bình thường”.
Mình không còn nhỏ, cũng không còn "ngây thơ" để có thể “sụp đổ” một vài thần tượng, nhưng quả thực những chi tiết mà mình biết, để khẳng định thêm một điều, lòng người thật khó lường, trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, nếu người ta giữ được mình, vẫn chính là mình, thì điều đó mới thật đáng quý...

TRÍ TUỆ CẢM XÚC



Trước đây, khi nói về sự thành đạt, người ta thường nghĩ đến chỉ số thông minh, gọi là IQ (Intelligent Quotient) như là một yếu tố quyết định. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, chỉ số IQ không giải thích được sự thành công trong cuộc sống. Royane Real, trong cuốn sách xuất bản năm 2004 của ông “How You Can Be Smarter -- Use Your Brain to Learn Faster, Remember Better and Be More Creative” từng chia sẻ rằng: “Mới đây, một chương trình truyền hình của Canada đã làm một phóng sự nhỏ về cuộc sống những người có chỉ số thông minh cao nhất Bắc Mỹ. Người đàn ông có chỉ số IQ cao nhất ở toàn Bắc Mỹ đã làm nghề bảo kê ở quán bar trong 10 năm qua và có thu nhập thuộc mức thấp nhất xã hội. Anh ta hiện đang sống một mình trong một garage nhỏ xíu. Một người đàn ông khác có chỉ số IQ cao ở mức thiên tài (>140) hiện là một thợ sửa xe mô-tô. Người này thường xuyên chơi với những đảng đua xe, cướp giật và đã vào tù ra khám thường xuyên.”



Những câu chuyện được Real trưng dẫn như thế này đang làm mất dần đi ‘uy tín’ của chỉ số thông minh (Intelligent Quotient-IQ) vốn được coi là tiêu chí để đánh giá sự thành công của một người. Điều này chứng tỏ IQ không bảo đảm sự thành công của bạn trong cuộc sống, mà nó chỉ có vai trò dự đoán khả năng nhận thức và thành tựu của chúng ta trong trường học mà thôi. Muốn thành công trong cuộc sống, con người cần thêm nhiều kỹ năng khác nữa. Những năm gần đây, người ta ngày càng quan tâm tới EQ (Emotion Quotient), chỉ số dùng để đo trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligent-EI) bởi họ tin rằng EI mới chính là yếu tố có thể giúp chúng ta thành công trong cuộc đời thật: trong sự nghiệp cũng như trong cuộc sống cá nhân của mỗi người.



Khi nói đến“trí tuệ cảm xúc”, người ta thường cho rằng thuật từ này được sử dụng lần đầu tiên trong luận án tiến sĩ của Wayne Payne (A study of emotion: Developing emotional intelligence) năm 1985 mặc dù trước đó, khái niệm này đã được Leuner đề cập đến vào năm 1966 rồi. Sau đó, một số nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển đi sâu vào lãnh vực này như Greenspan (1989), Salovey and Mayer (1990), Goleman (1995). Gây ảnh hưởng lớn nhất lúc bấy giờ là cuốn sách của Goleman Emotional Intelligence: Why It Can Matter More Than IQ (trí tuệ cảm xúc: tại sao quan trọng hơn chỉ số thông minh). Cuốn sách bán chạy nhất này là tài liệu đầu tiên chính thức bàn về trí tuệ cảm xúc; từ đó nhiều học giả bắt đầu để tâm nghiên cứu lĩnh vực này.

Các nhà nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc nêu trên cũng như các học giả gần đây như William Bennis, và Kay Brugge đã khẳng định rằng trí tuệ cảm xúc là yếu tố quyết định sự thành công của một người. Nói chung, trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) hay chỉ số trí tuệ cảm xúc (Emotional Quotient) là kỹ năng của một người về việc cảm nhận, đánh giá và quản lý cảm xúc của cá nhân mình, của đồng sự hay của đối tác để có được hiệu quả tối đa trong công việc cũng như trong giao tiếp xã hội. Hiểu một cách đơn giản thì trí tuệ cảm xúc là khả năng cảm nhận cảm xúc của bản thân và của người khác (nhận biết mình/đối tác đang có những cảm xúc gì?) và hiểu lý do nào mình phát sinh cảm xúc ấy và hiện trạng của nó (Tại sao tôi có cảm xúc này? Nó đang ở mức độ nào?). Và sau đó những hiểu biết về cảm xúc bản thân cũng như người khác này có thể giúp bạn làm chủ những phản ứng tâm lý và cảm xúc của bản thân (Tôi làm thế nào để điều chỉnh và hướng dẫn luồng cảm xúc đang hiện hữu này một cách hiệu quả nhất?), hiểu được động cơ hành động (Tôi làm như thế vì động cơ nào?) và cải thiện mối quan hệ với người khác (tôi làm thế nào để tôi và họ đều hài hòa và thoải mái trong mối quan hệ hiện tại?).

Như vậy, căn bản của trí tuệ cảm xúc là, chúng ta cần phải có nhận thức đúng đắn, có khả năng làm chủ và điều khiển cảm xúc của chính mình và hiểu được cảm xúc của người khác để thiết lập mối quan hệ xã hội tốt đẹp và hiệu quả nhất. Có khả năng về các phương diện trên, con người có nhiều tiềm năng để thành công trong cuộc sống. Như vậy, trí tuệ cảm xúc liên quan đến hiểu biết và trí thông minh ở hai phương diện: thứ nhất, hiểu biết chính bản thân mình, mục đích, chủ ý, phản ứng, hành vi cùng những trạng thái tâm lý khác của mình. Thứ hai, khả năng hiểu người khác cũng như cảm xúc của họ để điều hòa các mối quan hệ.


Những nhà nghiên cứu cho rằng nếu chỉ dựa vào chỉ số thông minh để dự đoán mức độ thành công của một người thì không chính xác vì chỉ số thông minh chỉ có thể phản ánh được khả năng lý luận, trí nhớ và cách giải quyết vấn đề thuần túy mang tính học đường và lý thuyết. Để thành công, con người cần nhiều yếu tố khác nữa như hành vi ứng xử hay nhân cách thì thông số của chỉ số thông minh không nói lên được, Trong khi đó, trí tuệ cảm xúc có thể được coi là yếu tố dự đoán chính xác hơn.


Theo Goleman, chỉ số trí tuệ cảm xúc EQ được xác định trên năm phương diện sau:

1. Hiểu biết được cảm xúc của bản thân mình và hậu quả của các cảm xúc đó. Luôn ý thức được hiện tại trong cơ thể mình đang có cảm xúc gì. Đây là nền tảng căn bản của trí tuệ cảm xúc. Có được khả năng này, con người có thể tự hiểu mình một cách đúng đắn và tự tin vào khả năng của mình, từ đó ý thức được mình có thể làm gì và phát triển bản thân theo hướng thế nào. Cọn nghề nghiệp phù hợp với khả năng và sở thích, chọn bạn đời phù hợp để có cuộc sống gia đình hạnh phúc là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc ở phương diện này.

2. Làm chủ và điều khiển được cảm xúc của mình để khi tham gia vào công việc hay các mối quan hệ, mình đều có thể làm việc hiệu quả nhất. Người có trí tuệc ảm xúc tốt về mặt này biết kiềm chế bản thân, biết thể hiện cảm xúc đúng cách, đúng đối tượng và với mức độ phù hợp. Những người này sẽ biết cách thể hiện mình và dễ dàng gây cảm tình cho những ngườiời chung quanh với cách thể iện đúng mực của mình.
3. Người có trí tuệ cảm xúc tốt biết cách tạo cho mình động cơ tâm lý tốt để phấn đấu trong cuộc sống, để phát huy sở trường của mình, tạo cơ hội và tận dụng cơ hội để thành công và vượt qua những trở lực trên đường mình đang đi. Người có khả năng về phương diện này sẽ biết cách làm cho ước mơ của họ thành sự thật một cách hiệu quả và thành công nhất. Họ biết vạch con đường đi riêng cho mình để thành công vì hơn ai hết, họ biết họ là ai và đang cần gì.

4. Nhận ra và hiểu biết cảm xúc của người khác. Từ đó, chúng ta có khả năng thấu cảm và đồng cảm với người mình giao tiếp và dễ dàng thiết lập mối quan hệ tốt đẹp trên nền tảng hiểu và thương. Khả năng tìm bạn, kết bạn và nuôi dưỡng quan hệ tình bạn là một trong những ví dụ cần đến kỹ năng này.

5. Trí tuệ cảm xúc có tác dụng điều chỉnh mối quan hệ xã hội hài hòa và hợp ý. Điều này giúp chúng ta có khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ với đối tác trong uy tín và tin tưởng nhau. Người có khả năng này thường lãnh đạo giỏi, quản lý tốt và điều hành nhân sự tuyệt vời.

Tất nhiên, mỗi người có khả năng khác nhau trên các phương diện nêu trên tùy thuộc vào sự nỗ lực rèn luyện và môi trường làm việc. Như vậy, trí tuệ cảm xúc có thể rèn luyện và phát triển để có được cuộc sống thành công. Tôi sẽ bàn tiếp mục này khi nào có dịp.

Thursday, September 25, 2008

NIỀM TIN


Tôi bắt đầu entry này bằng một câu chuyện tôi tâm đắc và suy đi nghĩ lại nhiều lần. Có thể các bạn đã từng nghe ai đó kể, có thể đã từng biết, có thể các bạn đã đọc hoặc nghe vô vàn câu chuyện na ná như thế này, nhưng tôi vẫn cứ viết ra đây. Có sao đâu nhỉ, những câu chuyện hay vốn dĩ không bao giờ thừa bởi vì chính bản thân nó làm nên nét đẹp cuộc sống; không những thế, nó hâm nóng và nuôi dưỡng bao tâm hồn đẹp. Câu chuyện thế này.
Có một người đàn ông, vốn là dân trộm cắp, từng giang hồ ngang dọc, tay đã vấy máu tội lỗi không ít, từng là đại ca của nhiều thế hệ ‘đàn em’. Thế rồi, một hôm, trên đường, tình cờ ông gặp một cậu bé mới lớn mới, nhìn đời bằng đôi mắt trong sáng tinh khôi. Cậu bé có được một mớ tiền nhờ tích góp bằng chính sức lao động của cậu trong mấy năm trời tha phương. Nơi gặp nhau của hai người là trên một chuyến tàu. Qua vài câu trao đổi, tên cướp này biết rằng cậu bé đang ôm bọc tiền dành dụm được bấy lâu về quê để xây nhà cho cha mẹ. Tên cướp hỏi “con đi một mình mang tiền vậy không sợ mất à?”. Cậu bé vui vẻ trả lời “con sẽ cảnh giác, nhưng con tin con sẽ giữ được, sẽ không có ai lấy đi bọc tiền của con cả”.
Người đàn ông kia cùng với đồng bọn đi trên tàu, nhằm tìm hiểu hành khách và đợi khi họ sơ hở là ra tay thôi. Bọn họ đều nghĩ đến thực hiện mục tiêu là lấy cắp bọc tiền kia. Nhưng rồi trong một thoáng, tên cướp nhận ra cậu bé quá ngây thơ. Cậu đã có một niềm tin mãnh liệt vào khả năng tự vệ và tin vào điều tốt, điều thiện của con người, rằng “sẽ không có ai lấy đi bọc tiền của con cả”. Người này chợt nhận ra mình phải có nhiệm vụ bảo vệ bọc tiền đó trước con mắt thèm thuồng của một băng cướp khác trên chuyến tàu. Cuối cùng, tên cướp vừa kịp hoàn lương trước niềm tin của một đứa bé đã trả giá bằng mạng sống của chính mình, vì anh ta phải chiến đấu với những gã lưu manh khác khi nhóm này nghe lóm được mẩu đối thoại giữa tên cướp và cậu bé.
Có những câu chuyện không chỉ đơn thuần là câu chuyện nếu nó cho ta nhiều suy nghĩ mới và cách nhìn mới về con người và cuộc sống. Ý nghĩa của câu chuyện trên quá rõ rồi, và tôi vẫn gặp đây đó nhiều mẩu chuyện tương tự. Đọc xong câu chuyện này, trong ta đọng lại một điều là, niềm tin thật là một điều kỳ diệu. Nó có khả năng thay đổi cả một mảnh đời. Từ một tướng cướp, niềm tin trong veo của cậu bé đã khơi dậy thiện tâm của tên cướp để rồi ông bằng lòng đánh đổi mạng sống của bản than mình để giúp người khác giữ vững niềm tin. Có niềm tin, ta sẽ làm được nhiều việc tưởng chừng không thể. Vào một lúc nào đó trong cuộc sống, ta có thể đánh mất tất cả; tiền tài, danh vọng, địa vị, gia đình, bè bạn... nhưng tuyệt đối có một thứ mà ta đừng bao giờ đánh mất và hãy luôn luôn mang nó bên mình. Đó là niềm tin. Niềm tin là bệ phóng để chúng ta hoạch định kế hoạch cho cuộc sống và từng bước thực thi kế hoạch của mình. Có niềm tin, ta sẽ có một chỗ nương tựa để chúng ta có thể lấy lại được những gì đã mất. Có niềm tin, ta sẽ có cuộc sống vui vẻ, hài lòng và hạnh phúc hơn.
Với sự phát triển và hòa nhập, giới trẻ ngày này, vận hội đã tạo ra cho họ nhiều cơ hội, họ có thể làm được nhiều điều lớn lao. Thế nhưng, xã hội và các nhà chức trách đang gióng lên hồi chuông báo động rằng, bên cạnh đó, cũng vô vàn cám dỗ và cạm bẫy vây quanh họ. Nếu họ không biết cách giữ vững bản thân thì sẽ dễ dàng sụp đổ. Xung quanh chúng ta là cả một thế giới bao gồm cả tốt lẫn xấu. Đương nhiên, chúng ta không thể dễ dàng tránh né cái xấu và đi tìm cái tốt nếu không có phương pháp hợp lý. Cuộc sống không đơn giản đến vậy. Do đó, muốn thành nhân, chúng ta phải học cách giữ mình khi đương đầu với cái xấu. Một bộ phận thanh thiếu niên ngày càng tăng đang lao vào các trào lưu xấu ác và tiêu cực, đốt sức khỏe, tiền bạc và uy tín bản thân chỉ vì không có được một điểm tựa trong cuộc sống. Có thể nói mà không sợ sai rằng, điếu đáng lo sợ nhất trong giới trẻ hiện nay chính là sự mất đi niềm tin vào bản thân, vào xã hội của các bạn trẻ, sống đua đòi trên những giá trị ảo hào nhoáng mà chúng cho la ‘thời thượng’ đó mới chính là điều đáng sợ nhất. Không có niềm tin thì các bạn sẽ như con thuyền không người lái. Nó sẽ chơi vơi và trôi theo dòng mà không định hướng tương lai.

Giáo dục thế hệ trẻ, tuổi mới lớn là một vấn đề không đơn giản chút nào. Lứa tuổi chập chững bước vào đời này rất nhạy bén, học hỏi nhanh chóng và dễ dàng bị tác động của môi trường sống. Và chính xã hội, các đoàn thể cùng với gia đình, những người có trách nhiệm xung quanh các bạn trẻ, nên ý thức vị trí, vai trò của mình để tạo một môi trường sinh hoạt lành mạnh, tươi trẻ để góp phần giúp chúng có được niềm tin trong sáng vào chính bản thân mình và những người xung quanh. Bằng mọi cách, chúng ta nên thể hiện sự hiểu biết và tâm lượng của người đi trước đối với người nhỏ hơn mình.
Niềm tin, không phải là cái gì đắt tiền mà chỉ có người giàu mới mua được. Trong cuộc đời này, ai cũng có thể sở hữu nó, nhưng có một điều cần nhớ là, nó cũng không dễ dãi cho không bất kỳ ai, và không phải ai cũng nắm bắt sự kỳ điệu mà bản thân nó vốn có. Niềm tin, không phải tự nhiên mà có, mà trải qua bao thăng trầm trong cuộc sống, với những chiêm nghiệm của bản thân, người ta mới thực sự nắm bắt được cái gọi là "niềm tin". Niềm tin là mẹ của tất cả thành công trong cuộc sống. Chúng ta té ngã không phải vì yếu mà vì chúng ta không tin rằng ta đủ mạnh. Tin vào một điều gì đó, tất nhiên là tốt đẹp hơn, có thể xảy ra trong tương lai, với những nỗ lực không mệt mỏi để biến những điều đó thành hiện thực là con đường đi của những người thành công. Trong cuộc sống cũng vậy, gặp năm, ba người chưa đủ tốt, dừng vội nản lòng và mất niềm tin vào con người và cuộc sống. Hãy tự nhắc mình rằng “nhân chi sơ, bản tánh thiện...”
Tôi thấy hằng ngày những học sinh xách cặp đến lớp học, những công nhân lên công xưởng, những kỹ sư lên văn phòng, hay tỏa ra các công trường... và cả những người bán buôn gánh bán bưng, người bán hàng rong giong ruổi trên khắp các nẻo đường, tất bật với cơm áo gạo tiền. Rồi những người bán hàng đêm với tiếng rao đêm chạnh lòng trong đêm đông mưa gió não nùng... Họ làm việc mệt mài, suốt ngày dài tháng rộng. Rồi những người bệnh tật đang vật lộn với cuộc sống từng giờ để giành từng hơi thở với thần chết…Cuộc sống tuy vẫn còn nhiều khó khăn bề bộn, nhưng họ đã nỗ lực làm việc và cố gắng sống. Động lực đằng sau đó là gì? Là một niềm tin, để làm cho cuộc sống của bản thân, của những người thân thích ngày một tốt hơn.
Tôi cũng đã thấy nhiều em bé trắng như giấy, trong như nước và ngây ngô như mây trời, như cậu bé trong câu chuyện ở trên. Các em bé này, rất dễ thương, rất chân chất, với một tâm hồn trong như trời hạ, vững niềm tin vào bản thân mình và sự thiện lành của những người xung quanh. Song cũng có nhiều em bé không có được niềm tin vững vàng. Tôi thiết nghĩ, tôi cùng các bạn, chúng ta cần thấy rằng mình có nhiệm vụ làm cho những cô bé cậu bé ngây thơ ấy tin rằng, chúng đang sống trong một xã hội tốt, hay ít ra cũng có nhiều người tốt, và cuộc sống xung quanh đang diễn ra tốt đẹp với sự chung tay góp sức của những con người có niềm tin vững chắc vào chính mình. Không ai trải thảm đỏ cho mình bước lên mà con đường của mỗi một con người là do mỗi cá nhân tự bước trên đôi chân của chính mình. Phải có những nghị lực lớn, và niềm tin lớn và sự quyết đoán lớn để sống một đời có ý nghĩa.
Một điều tôi tự nhắc mình, hãy giữ vững niềm tin trước khi giúp người khác giữ vững niềm tin!

Saturday, September 20, 2008

HỌC SINH CẦN HỌC ĐIỀU GÌ?

Xin nhặt bài này từ blog tuanvannguyen ve day lam tu lieu

http://tuanvannguyen.blogspot.com/

Học sinh cần học điều gì ?
Tôi có nhiều câu chuyện cá nhân rất vui. Hàng ngày tôi nhận được vài email (không nhiều lắm) từ các bạn trong nước hỏi về đủ thứ chuyện, có những chuyện tôi chẳng biết mô tê gì cả. Tuy nhiên, điều làm tôi chú ý là ngôn ngữ và thái độ trong email. Thôi thì đủ thứ: từ lịch sự, nhún nhường, đến lên lớp, và cao độ nhất là cách viết cứ như là ra lệnh. Không ngạc nhiên khi thấy không có lời cám ơn (và thật sự thì tôi cũng không cần). Nhưng đặc biệt ngạc nhiên là hầu hết thư đều không hề xưng danh tính. Tôi thấy lúng túng với những thư như thế và đành im lặng. Có lần tôi chuyển một thư của một bạn trẻ cho một người bạn có liên quan, người bạn này kêu lên: sao nó vô lễ thế!

Người mình có câu "tiên học lễ, hậu học văn". Nếu có vô lễ thì chắc phải xét đến nền giáo dục của ta. Thời gian gần đây có nhiều tiếng nói đòi cải cách giáo dục ở nước ta. Người ta cho rằng nhiều vấn nạn xã hội mà nước ta gánh phải ngày nay là do hệ thống giáo dục tồi tệ. Tôi cũng thấy như thế và cũng từng lên tiếng nhiều lần. Tuy nhiên, nay thì tôi thấy chán rồi, vì nói hoài mà chẳng có thay đổi gì. Lực lượng trì trệ đã chiến thắng, đã làm cho những người có tâm huyết nản lòng.

Trong bài "Việt Nam đang đi theo triết lý giáo dục nào?", Gs Chu Hảo viết: "Điều lạ lùng là, mặc cho dư luận xã hội có vẻ như ngày càng bức xúc, nhưng mọi việc vẫn đâu ở đấy. Hình như các kiến nghị của nhóm Giáo sư Hoàng Tụy (2004), của nhóm Trí thức Việt kiều (2005 và 2008), của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2006), của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (2007), của nhóm Bà Nguyễn Thị Bình (2008) đều cứ như là 'đấm vào bị bông'."http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/4845/index.aspx

Tôi không quan tâm đến chuyện triết lí này nọ, nhưng chỉ quan tâm đến những chuyện nhỏ và thực tế. Hôm trước, nhân đọc trên máy bay một bài viết rất hay của ông hiệu trưởng trường Yale về giáo dục, tôi nảy ý định viết bài này.

Bốn trăm năm trước Công nguyên, khi được hỏi học sinh nên được dạy điều gì, triết gia Aristippus của Hi Lạp trả lời: "Những điều mà họ sẽ sử dụng khi họ trở thành người lớn".

Kĩ năng gì học sinh sẽ sử dụng khi các em trưởng thành? Có hai điều chắc chắn trong cuộc đời: cái chết và thuế má. Chúng ta có dạy cho các em về cái chết hay những điều liên quan đến thuế và tài chính hay không? Thú thật, khi Ba Má tôi qua đời, trong nỗi niềm đau khổ, tôi cảm thấy lúng túng trong việc tổ chức tang lễ. Tôi cần phải thông báo cho ai? Nhiệm vụ của tôi trong gia đình là gì? Cũng may là có bà con và các dì tôi cố vấn, chứ không thì tôi cũng bí. Lúc đó tôi mới nhận ra mình quá khờ dại trong cuộc sống thực tế.

Rồi đến thuế má, một chủ đề rất quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Giới trẻ ngày nay với những bê bối, lem nhem về tài chính, khi họ trở thành nạn nhân của những vụ lường gạt thẻ tín dụng. Chẳng nói đâu xa, ngay cả đứa con lớn của tôi nó không phân biệt được các chương trình khuyến mãi, không quyết định được nên sử dụng công ti điện thoại nào, và không biết tiết kiệm tiền bạc. Có cái gì đó hụt hẫng trong giáo dục kĩ năng đời sống ở bậc trung học.

Thật ra, nhà trường ngày nay chẳng quan tâm đến các vấn đề thực tế như tôi vừa mô tả, những vấn đề mà thanh thiếu niên sẽ phải đối phó khi họ trưởng thành. Các chương trình giáo dục hiện hành được soạn thảo nhằm mục tiêu giúp cho học sinh chuyển tiếp vào hệ thống đại học và chuẩn bị thi cử, chứ không phải để chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống thực tế. Thế thì câu hỏi đặt ra là học sinh cần học những gì để khi trưởng thành họ có thể áp dụng? Bất cứ một câu trả lời nghiêm chỉnh nào cũng không thể bỏ qua các kĩ năng sau đây: * sống trong cộng đồng và vun đắp quan hệ cộng đồng;* kĩ năng thông tin; * tự biết chính mình và có lập trường;* đối phó với các vấn đề cá nhân, kể cả sex; * kiểm soát cảm tính;* quản lí tài chính; * làm những việc thực tế như lau dọn nhà, nấu ăn, sửa đồ đạc trong nhà;* có thái độ tốt, tử tế, và biết cư xử với người ngoài gia đình;* nhận lãnh trách nhiệm; * có khả năng đối phó với những mất mát và khổ đau.

Thật ra, còn biết bao nhiêu chủ đề có thể đưa vào danh sách trên, nhưng một danh sách dài như thế có lẽ cũng đủ để minh họa cho những chasm học sinh cần biết khi lớn và những gì thường được dạy ở nhà trường. Có vài ngoại lệ glorious, dĩ nhiên, và phần lớn trường học sẽ xem xét đến các vấn đề vừa nêu, nhưng tôi tin rằng hệ thống giáo dục phương Tây nói chung đã thất bại trong việc cung cấp cho học sinh những kĩ năng thực tế thiết yếu.

Trường học cần phải huấn luyện nhiều hơn nữa cho học sinh, chứ không phải chỉ là bốn bức tường của nhà giữ trẻ. Trường học nên huấn luyện trái tim và bộ óc, và thực hiện qua các môn học. Tôi đề nghị trường học xem xét đến các kĩ năng sau đây:

1. Cộng đồng. Ngày nay học sinh bị cuốn hút theo những trò chơi điện tử và những trò chơi hay quan hệ trên hệ thống internet. Đây những trò chơi làm cho họ xa lánh với môi trường sống thực tế, và thiếu sự tương tác giữa con người với con người. Kĩ năng xã hội (social skills) của học sinh càng ngày càng kém. Và, điều này dẫn đến tình trạng học sinh trở nên ích kỉ, không quan tâm đến nhu cầu của người khác, không có khả năng liên kết suy nghĩ của người khác vào quĩ đạo suy nghĩ của mình. Nói ngắn gọn, họ trở nên một gánh nặng cho xã hội và cộng đồng. Điều mà học sinh cần phải biết là kinh nghiệm sống trong cộng đồng, chứ không phải chỉ trong bốn bức tường của trường học. Họ phải có kinh nghiệm sống ngoài trường học, sống với 24 giờ trong cái thế giới hỗn độn và cộng đồng phức tạp. Họ cần phải học cách trở nên tử tế với những người chung quanh.

2. Kĩ năng thông tin. Học sinh, đặc biệt là nam học sinh, cần được rèn luyện kĩ năng thông tin tốt hơn. Họ cần phải học cách diễn tả và lí giải một cách hoạt bát qua viết văn và nói chuyện. Mặc dù các kĩ năng này không phải là nhu cầu gì mới trong giáo dục nhà trường, nhưng cái thách thức là làm sao nâng cao kĩ năng thông tin cho học sinh một cách hữu hiệu hơn. Tuy nhiên, nhà trường cần phải nhận thức rằng nội dung thông tin chỉ chiếm khoảng 7% độ ảnh hưởng của thông tin. Phần còn lại là do thái độ và thể diện (57%) và âm lượng của người nói chuyện (36%). Học sinh cần phải được dạy để đọc ngôn ngữ cơ thể (body language) của người đối diện để cảm nhận tâm trạng, để diễn giải cảm giác mà không thể mô tả bằng ngôn ngữ, của người đối thoại. Họ cần phải cải tiến khả năng chuyển tải và tiếp nhận thông tin qua ngôn ngữ cơ thể và thái độ, hơn là chửi bới vô duyên.

3. Tự biết mình. Ngày nay, có quá nhiều thanh thiếu niên không có chính kiến, không có lập trường, không biết họ đứng ở vị trí nào và cũng chẳng biết họ tin tưởng vào cái gì. Một số khác thì đáng ngại hơn là họ tỏ ra hài lòng với với sự cuộc sống nhưng không có cứu cánh gì cả, không có lập trường vững chắc. Thậm chí tồi tệ hơn, một số học sinh còn không biết họ là ai, không biết mình có khả năng gì đặc biệt. Do đó, một yêu cầu cơ bản cho tất cả học sinh là họ phải là chủ nhân của những gì họ tin tưởng hay lập trường cá nhân. Họ có thể bắt chước, có thể nói theo ý kiến của người khác, hay tin theo một niềm tin từ cha mẹ hay thầy cô ở nhà trường, nhưng mỗi học sinh phải tìm cho mình một tiếng nói riêng hay một lập trường cá nhân, chứ không phải cứ nghe theo người khác một cách mù quáng.

4. Vấn đề riêng tư. Nói chung, hệ thống giáo dục nước ta không thành công mấy trong việc chuẩn bị cho học sinh để đương đầu với các vấn đề riêng tư, kể cả sex. Chúng ta đang có những chương trình giáo dục về sex, nhưng hình như vẫn chưa có hiệu quả vì giới thầy cô miễn cưỡng giảng dạy chủ đề này. Trong khi đó, học sinh liên tục tiếp thu nhiều thông điệp trái ngược nhau. Cha mẹ thì nói thế này, còn trường thì nói thế khác, nhưng các website thì tuyên bố hoàn toàn khác với cha mẹ và thầy cô. Người có tư cách để giáo dục học sinh về sex chính là cha mẹ các em. Một số cha mẹ không ngần ngại nói về sex với con em mình, nhưng đại đa số cha mẹ không bao giờ muốn nói đến những chuyện tế nhị này.

5. Kiểm soát cảm tính. Có người chỉ ra rằng nhà tù ngày nay đầy rẩy thanh niên và đàn ông, nhưng nếu họ có kĩ năng và nghệ thuật đếm từ 1 đến 10 trước khi hành động thì có lẽ không cần đến nhà tù. Hành động một cách nông nỗi, bốc đồng thường có nghĩa là chỉ có một phần của bộ não được khởi động, còn phần khác của não cần thiết để phòng chống những quyết định thiếu sáng suốt chưa được khởi động. Hành động "chiến đấu hay là chạy" (fight or flight) có thể mang tính di truyền và cần thiết vào từ thời tiền sử, thời mà người đàn ông phải bảo vệ hang động từ các nhóm xâm lăng, nhưng không có hiệu quả trong thế giới hiện tại, thế giới chỉ chấp nhận những hành động và con người trưởng thành trong xã hội hiện đại.

6. Tài chính. Mức độ dốt của học sinh về tài chính thật là đáng sợ. Điều này được biểu hiện qua phần lớn những thanh thiếu niên và học sinh gặp trở ngại trong các vấn đề tài chính vì họ không có khả năng cân đối ngân sách, không hiểu những bẫy trực chờ của các thẻ tín dụng và không có khả năng trả nợ. Sống và chi tiêu quá khả năng (vung tay quá trán) hay quá lệ thuộc vào cha mẹ là nguyên nhân dẫn đến những thảm nạn tài chính cho học sinh. Trong một xã hội mà nợ nần càng ngày càng trở nên một gánh nặng, vấn đề tài chính cần phải được giảng dạy cho học sinh. Cần phải nói cho học sinh biết những điều kiện hay cạm bẫy để tránh mượn tiền quá nhiều, tránh những chương trình khuyến mãi làm giàu nhanh chóng, và biết chi tiêu một cách thỏa đánh, thích hợp với thu nhập của mình và của gia đình.

7. Thực tế. Thảo luận về tình trạng thiếu các kĩ năng sống ở thanh thiếu niên thường được thêu dệt bằng những câu chuyện kinh khủng về phòng tắm dơ bẩn, nhà bếp với chồng chất chén đĩa dơ dáy, và phòng ngủ lượm thượm. Một số học sinh không bao giờ được dạy nấu ăn, hay nếu được dạy, họ có lẽ chưa được dạy cách rửa nồi niêu, chén đũa sau khi nấu ăn. Do đó, không ngạc nhiên chút nào học sinh ngày nay thiếu hàng loạt kĩ năng sống trong nhà, từ những việc đơn giản nhất (như cắt cỏ, thay nhớt xe, thay ống nước) đến những việc có phần tính toán hơn như cách tiết kiệm điện lực.

8. Lịch thiệp. Thiếu niên có thể ăn như một con heo, nhưng họ cần phải nhận thức được rằng họ ăn uống như heo và có khả năng ngưng ăn khi tình thế đòi hỏi. Tiếc thay những phép lịch sự căn bản như cách xưng hô trong khi nói hay viết là những kĩ năng có nguy cơ bị tuyệt tự ở những thanh thiếu niên ngày nay. Không học các hành vi lịch thiệp trong xã hội có thể dẫn đến bất lợi cho học sinh. Do đó, học sinh cần phải được dạy những kĩ năng căn bản như cách xưng hô, gửi một lời cám ơn, bắt tay một cách thích hợp.

9. Trách nhiệm. Nhiều học sinh có một cuộc sống qua khung cửa sổ. Họ chỉ thích nhìn. Nhìn là điều an toàn. Họ không có trách nhiệm, hay không nhận lãnh trách nhiệm. Khoanh tay nhìn xe bị tai nạn mà không làm gì giúp nạn nhân. Lối sống này rất phổ biến trong thanh thiếu niên ngày nay, phổ biến đến nổi chúng ta có thể nói họ sống thụ động. Họ nhìn, họ xem, họ phê phán từ ghế salon tiện nghi trong phòng khách. Khi trưởng thành, họ sẽ thấy khó làm gì hơn là nhìn và trở nên vô trách nhiệm. Vì thế, học sinh cần phải được dạy cách thức làm chủ thái độ và hành vi của họ, cách làm lãnh đạo, cách quyết định thích hợp, và cách phục vụ người khác.

10. Sức bật. Thanh thiếu niên nói chung thích được khen tặng, tán dương. Có em thậm chí cảm thấy mình bị ngã gục vì họ không được khen ngợi! Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng hay toàn những điều tốt đẹp. Lòng tự trọng cần phải được phát triển và bồi đắp. Những thành công tầm thường không thể tâng bốc là phi thường được. Học sinh không nên tùy thuộc vào những lời khen tặng. Những bất mãn, thất vọng có thể xảy ra trong đời sống. Học sinh cần phải được trang bị cho mình nội lực để và can đảm cần thiết để đương đầu với những bất trắc trong cuộc sống.

Trên đây là những kĩ năng sống mà tôi nghĩ học sinh cần phải được dạy trong trường học. Học sinh cần tình cảm và nghị lực. Ở nước ta có câu "Tiên học lễ, hậu học văn" nghe rất hay nhưng tôi nghĩ khá trừu tượng. Trong số những kĩ năng trên đây liên quan đến lễ, nhưng cũng có kĩ năng mà phương châm đó chưa nhắc tới: kĩ năng xã hội. Người ta thường nói chúng ta được sinh ra trần truồng, ướt át, và đói khát, và vấn đề có thể trở nên tồi tệ hơn. Nhưng may mắn thay, vấn đề vẫn có thể trở nên tốt hơn qua giáo dục.

Thursday, September 18, 2008

NHU NHƯỢC

Truyện ngắn hài hước này thật đặc sắc của Anton Chekhov. Trên đời này làm kẻ mạnh mới dễ làm sao? Một phần cũng vì kẻ yếu thường hay nhu nhược...!)

Một hôm tôi gọi cô Iulia Vasilievna - gia sư của bọn trẻ đến phòng làm việc. Đã đến hạn thanh toán tiền công cho cô ấy.
-Cô ngồi xuống đi, cô Iulia Vasilievna - tôi nói
- tôi sẽ thanh toán tiền công cho cô. Tôi chắc cô cũng cần tiền, nhưng là một người tự trọng nên chắc cô không tiện hỏi, đúng không? Chúng ta đã thoả thuận với nhau là 30 rúp một tháng nhỉ.
-40 rúp chứ ạ...
-Không, chỉ 30 rúp thôi. Tôi có ghi vào sổ rồi mà. Bao giờ tôi cũng chỉ trả cho gia sư 30 rúp một tháng thôi. Xem nào, cô đã làm cho chúng tôi hai tháng rồi nhỉ.
-Hai tháng 5 ngày ạ....
-Không chính xác hai tháng. Tôi có ghi đây mà. Vậy là phải trả cho cô 60 rúp... trừ đi 9 ngày chủ nhật... Các chủ nhật cô chỉ đưa thằng Koha đi dạo thôi mà, có học hành gì đâu... cộng 3 ngày lễ...
Cô Iulia Vasilevna mặt đỏ bừng, tay mân mê gấu áo, nhưng vẫn không nói gì.
-9 chủ nhật, 3 ngày lễ vị chi là 12 rúp. Thằng Kolia bị ốm mất 4 hôm, không học, cô chỉ trông mỗi con Va ria... 3 ngày cô bị đau răng vợ tôi cho cô nghỉ buổi chiều... 12 với 7 là 19. Sáu mươi rúp trừ đi 19 rúp, vậy chỉ còn 41 rúp, đúng không cô? 

Mắt trái của cô Iuìia đỏ ngầu và ngân ngấn nước mắt, cằm cô run lên bần bật. Nhưng chỉ thấy cô ho và xì mũi, tuyệt nhiên không nói lời nào!
-Đêm giao thừa cô đánh vỡ cái tách uống trà với các đĩa cùng bộ. Tôi sẽ trừ tiền lương của cô đi 2 rúp nữa... Thực ra cái tách ấy đắt hơn kia, vì đó là đồ gia bảo mà, nhưng thôi! Cũng không nên so đo quá với cô. Một lần do cô không cẩn thận đã để thằng Kolia trèo lên cây làm rách mất chiếc áo khoác... Trừ thêm 10 rúp nữa... Rồi cũng vì cô lơ là nên con hầu đã ăn cắp mất đôi giày của con Varia. Cô phải trông nom chúng cẩn thận chứ. Tôi trả lương để cô dạy dỗ và trông chúng nó cơ mà...Vậy trừ tiếp 5 rúp... Hôm mồng 10 tháng giêng cô mượn của tôi 10 rúp...
-Tôi có mượn đâu ạ... Giọng cô Iulia nghèn nghẹn.
-Tôi đã ghi cả đây mà lị.
-Vâng, thế cũng được ạ.
-Vậy là 41 trừ đi 27 còn lại 14. Lúc này thì hai mắt cô giáo trẻ đã đầy nước... Trên chiếc mũi thanh, cao của cô đã lấm tấm mồ hôi. Thật tội nghiệp!
-Tôi chỉ vay vợ ông có 3 rúp - giọng cô run run
- Đúng có một lần 3 rúp mà thôi.
-Thế à? Vậy mà tôi không hề biết gì cả. Thảo nào trong sổ tôi không thấy ghi. 14 rúp trừ 3 còn 11. Đây, tiền lương của cô đây, cô giáo thân mến ạ! 3 này, 3 này, 8 này, 1 rúp, 1rúp. Xin cô nhận cho?
Và tôi đưa cho cô 11 rúp. 
 Cô nhận lấy chúng bằng những ngón tay run rẩy rồi nhét vào túi.
-Cám ơn ông - cô nói thì thầm.
Tôi đứng dậy và tiến lại phía cô. Một sự tức giận xâm chiếm lấy tôi. Tôi cáu phát điên lên.
-Cô cám ơn cái gì? -
Tôi xẵng giọng.
-Vì ông đã trả lương cho tôi...
-Nhưng cô không thấy là tôi ăn chặn của cô, bóc lột cô hay sao? Cô còn cám ơn cái nỗi gì?
-Ở những nơi khác người ta còn chẳng trả cho tôi đồng nào kia. 

-Không trả ư? Cũng dễ hiểu thôi! Thì tôi cũng vừa đùa cô đấy thôi. Tôi muốn dạy cho cô một bài học. Nhưng xin cô cứ yên tâm, tôi sẽ trả đủ 80 rúp cho cô. Chúng ở trong chiếc phong bì kia kìa, tôi đã chuẩn bị sẵn rồi. Nhưng tôi không hiểu tại sao cô lại có thể nhẫn nhục đến thế? Sao cô không cãi lại tôi? Sao cô cứ ngồi im như thóc thế. Chẳng lẽ có thể nhu nhược đến thế sao? Cô giáo mỉm cười rầu rĩ và tôi đã đọc được trên mặt cô hai chữ "có thể". 

Tôi đã xin lỗi cô gia sư vì bài học tàn nhẫn vừa rồi và đưa cho cô cả 80 rúp mà cô đáng được nhận trong sự ngạc nhiên đến tột độ của cô. Cô ngượng nghịu cảm ơn và lui ra. Tôi nhìn theo cô hồi lâu và chợt nghĩ: "Trên đời này làm kẻ mạnh mới dễ làm sao!"
(sưu tầm)

PHẢN ỨNG THẾ NÀO VỚI LỜI CHÊ?

Thường thì khi nghe một ai đó phán xét khen chê mình, chúng ta có dịp trải nghiệm một thứ cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực. Nhận được lời phán xét tích cực, thì đó là lời khen ta khởi tâm vui thích, ngay cả khi biết lời khen đó không phản ánh hoàn toàn sự thật về mình. Nhận lời phán xét tiêu cực ta cho đó là chê, khi lời phán xét này vừa lọt vào tai thì y như rằng, mặt ủ mày ê, dù đó là sự thật và mình cũng quá hiểu điều đó. Bản năng tự vệ có công năng đẩy lùi tất cả mọi thứ ‘dám’ chạm đến cái NGÃ to lồ lộ của mình. Có thể cách phản ứng của mình là vụng về, thô tháo với cái nhìn của người ngoài, nhưng ai nghĩ sao mặc kệ, mình không quan tâm, miễn mình đạt được mục đích là che chắn và bảo vệ cái ngã mình không để bị tổn thương là được. Kết cục, đương nhiên chúng ta muốn ăn mày lời khen và tránh né việc bị phán xét chê bai.


Có một điều phổ biến với tất cả chúng ta là mình không thích bị phán xét, vì trong lời phán xét ấy, chê bai là điều không tránh khỏi. Thường thì chúng ta có tâm lý cầu toàn nhưng điều chúng ta quan tâm là làm sao hình ảnh mình xuất hiện đẹp trong mắt người khác hơn là nỗ lực bản thân để hoàn thiện mình. Không chấp nhận bị phán xét, chúng ta luôn lo sợ, bất an, bối rối, bực bội và nghi ngờ trong tâm khi chúng ta thấy lòng mình buộc phải phòng ngừa và đối phó một thứ cảm xúc xem chừng thực sự được người xung quanh ban tặng, nếu biết tiếp thu có chọn lọc, sẽ giúp mình điều chỉnh hoàn thiện bản thân mình hơn. Với bản năng tự vệ để tạo một thành trì bao bọc cho tự ngã, mọi lời nói, hành động không xứng ý của người khác dành cho mình, khi vừa chạm đến mình qua các cửa ngõ giác quan, mình có cảm giác như bị kim đâm muối xát và cứ thế, đánh bật ra ngoài bằng mọi cách mình có thể kịp nghĩ ra để phản ứng.


Tỷ dụ, chúng ta có thể mới gặp một ai đó lần đầu và thấy mình tự giam cầm cảm xúc tiêu cực về họ, nghĩ rằng “họ sắp sửa phán xét, chê bai gì mình đây” trong khi chúng ta không muốn bị rơi vào cái bẫy bị phán xét. Dù chúng ta có ý thức điều này hay không, tâm thức chúng ta vận hành như thế để kịp thời phản ứng và thậm chí ‘tấn công’ trước. Để rồi về sau, trong một thoáng nào đó, chúng ta chợt nhận ra rằng, biết đâu người ấy từng muốn giúp chúng ta giữ gìn, chăm sóc, nuôi dưỡng tâm lành và hoàn thiện bản thân mình. Điều gì khiến chúng ta vội vã dập tắt sự suy nghĩ về thiện chí của họ? Có lẽ chúng ta từng gặp nhiều người nhận xét không đúng và tiêu cực về mình rồi ấn tượng cả với người mình gặp lần đầu tiên theo kiểu “con chim từng bị trúng tên sợ cả cành cây cong” hay sao? Có suy nghĩ và cách ứng xử như vậy, mình sẽ chịu thiệt thòi. Khi phán xét, chúng ta tiến gần tới sự rào kín, khép chặt, thậm chí có khi sử dụng chiêu thức ‘đánh trận giả’ kiểu tắc kè hoa thay màu da để tự vệ bản thân hơn là mong mỏi cởi mở, bộc lộ cho đối tượng biết về mình. Thật ra, nếu chúng ta đủ lớn và khôn để hiểu được chính bản thân mình và việc mình làm, thì dư luận không thể làm cho mình tốt hơn hoặc xấu đi. Đóng cửa giác quan và đủ bản lĩnh tự tin để sống mà không dao động với khen chê là điều tốt, nhưng khởi tâm tiêu cực về người khác, thậm chí ngay cả với người mình gặp lần đầu là gieo hạt giống bất thiện vào tâm thức của chính mình. Ủa, mà sao vội ‘tung hỏa mù’ trước để tự vệ nhỉ? nếu tự tin vào mình và coi thường dư luận thì hà cớ gì phải lo ngại khi người ta nói tốt xấu về mình chứ? đủ mạnh thì cứ ra gió chứ ngại lo gì bị cảm mạo phải không? Do đó, điều quan trọng là chúng ta không nên đóng chặt cửa giác quan, cài then thành kiến và sẵn sàng chiếc gậy ở góc nhà vì lo sợ, ai đến nhà mình…cũng đều có thể là kẻ gian!
Hãy mở cửa cho thoáng mát, nhưng cần đủ tinh nhạy để tiếp ‘khách’ của tâm. Khả năng tiếp thu và chọn lọc ý kiến và thông tin vô cùng quan trọng để có được cuộc sống nhẹ nhàng và thảnh thơi.


Chúng ta cũng cần có ý kiến đánh giá hành động, lời nói của người khác. Trên tinh thân học hỏi, nhanh nhạy tách lọc và nhận chân ra sự dẫn dắt từ một nội tâm bình thản, không bị thôi thúc bởi động lực chủ quan nào, rồi có ý kiến, thay vì phán xét vô căn cứ. Khi chưa hiểu hết sự việc và khi tâm bị tâm lý chủ quan thương-ghét chi phối, hơn lúc nào hết, câu ‘im lặng là vàng’ có giá trị nhiều. Lúc đó, điều ta cần làm là thay vì có ý kiến, phán xét người khác, ta quay vào ‘làm việc’ với chính tâm thức mình. Thử coi nó kẹt chỗ nào, vướng chỗ nào và đâu là giải pháp tốt nhất. Bằng không thì chúng ta dễ gặp phải nguy cơ không lắng nghe trực giác của mình mà buông những lời vô tội làm tổn thương người khác và đồng thời gieo vào mảnh đất tâm của mình một hạt cỏ vậy. Hãy dọn tâm cho thanh thản và công bằng. Nên có ý kiến và phát biểu quan kiến của mình trên cơ sở chính xác với tâm lý tích cực để góp ý cho người thân xung quanh cũng như tiếp thu ý kiến người ngoài để ‘làm mới’ mình trong mọi lúc mọi nơi. Nếu có ý kiến và biết tiếp thu ý kiến đúng cách, sự dẫn dắt nội tâm tạo điều kiện cho chúng ta ngày càng tương tác một cách thông minh hơn với thế giới, đủ để chúng ta sống mà không quá lệ thuộc hay lo sợ vào mọi ý kiến đánh giá từ bên ngoài. Khi ấy, thay vì nỗ lực cố sức lẩn tránh việc bị phán xét, chúng ta đón nhận nhiều luồng ý kiến khác nhau một cách bình tĩnh và khôn ngoan nhất.


Tự thân trực giác thường khai sáng chúng ta bằng thoáng vụt hiện, đi kèm với một triệu chứng vật lý cụ thể có thế cảm nhận dễ dàng, như đôi chút xốn xang trong dạ dày, gang bàn tay rịn mồ hôi hay cơn rùng mình ớn lạnh. Chúng ta thường sử dụng các thông tin vật lý này nhằm hỗ trợ bản thân định hướng ở một tình huống cụ thể để kịp thời đáp ứng nhu cầu của cơ thể và điều này luôn luôn đem lại lợi lạc cho chính chúng ta. Tương tự thế, lắng nghe trực giác và tạo manh nha một ý kiến do vậy, đều là kết quả tích cực khởi đi từ năng lực cảm nhận tinh nhạy của chính chúng ta để các mối giao tiếp xã hội của mình trở nên dễ dàng và thoải mái hơn. Thu nhận hay phát biểu ý kiến về một người hoặc về một ý tưởng nào đó cho phép chúng ta có cơ hội trao đổi, chuyện trò về nó trong một cách thức thuần túy dự tính mà thôi. Hãy học để có được nghệ thuật lắng nghe trực giác từ sâu thẳm tâm thức trước khi thu nhận và phát ‘dữ liệu’ ra bên ngoài để không sập bẫy và giăng bẫy ‘phán xét’người khác, tôi tự nói với chính mình.