Wednesday, February 11, 2009

Di ngôn của Hòa thượng Thánh Nghiêm




聖嚴師父遺言
Di Ngôn Của Hòa Thượng Thánh Nghiêm

一、 出生於一九三○年的中國大陸江蘇省,俗家姓張。在我身後,不發訃聞、不傳供、不築墓、不建塔、不立碑、不豎像、勿撿堅固子。禮請一至三位長老大德法師,分別主持封棺、告別、荼毘、植葬等儀式。務必以簡約為莊嚴,切勿浪費舖張,靈堂只掛一幅書家寫的輓額「寂滅為樂」以作鼓勵;懇辭花及輓聯,唯念「南無阿彌陀佛」,同結蓮邦淨緣。

1. Sinh năm 1930 tại tỉnh Giang Tô –Trung Quốc, tục họ Trương. Khi tôi mất, không thông báo tin buồn, không cúng kiếng, không lập mộ, không xây tháp, không dựng bia, không đúc tượng, không thâu lượm xá lợi. Lễ tang thỉnh một đến ba vị trưởng lão pháp sư đại đức thay nhau chủ trì các nghi thức nhập liệm, cáo biệt, trà tỳ, thực táng. Điều cốt yếu tổ chức nên đơn giản mà trang nghiêm, không được lãng phí phô trương, linh đường chỉ cần treo một câu thư pháp “Tịch Diệt Vi Lạc” để khích lệ tinh thần; không nhận vòng hoa và đối liễn phúng điếu, chỉ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” để cùng kết thiện duyên về miền Tịnh độ.

二、身後若有信施供養現金及在國內外的版稅收入,贈與財團法人法鼓山佛教基金會及財團法人法鼓山文教基金會。我生前無任何私產,一切財物,涓滴來自十方布施,故悉歸屬道場,依佛制及本人經法院公證之遺囑。

2. Hậu sự nếu có tín thí cúng dường tiền bạc và nhận được tiền bản quyền xuất bản sách sách trong và ngoài nước, tặng vào quỹ của hội từ thiện Phật giáo Pháp Cổ Sơn và hội Văn Hóa Giáo Dục Pháp Cổ Sơn. Tôi sanh tiền không có bất cứ tài sản cá nhân nào, tất cả của cải đều là của thí chủ thập phương cúng dường, nên chúng đều thuộc về đạo tràng, theo Phật dạy và di chúc của bản thân đã được tòa án công chứng.

三、凡由我創立及負責之道場,均隸屬法鼓山的法脈,除了經濟獨立運作,舉凡道風的確保、人才的教育、互動的關懷及人事的安排,宜納入統一的機制。唯在國外的分支道場,當以禪風一致化、人事本土化為原則,以利純粹禪法之不墮,並期禪修在異文化社會的生根推廣。

3. Những đạo tràng do tôi sáng lập và phụ trách, đều thuộc về pháp phái Pháp Cổ Sơn, ngoài việc kinh tế độc lập, giữ gìn đạo phong, đào tạo nhân tài, quan tâm lẫn nhau và sắp xếp nhân sự, nên nhập vào cơ chế thống nhất. Còn đạo tràng nước ngoài, nên dựa theo nguyên tắc nhất trí hóa về thiền phong, bản địa hóa về nhân sự, để không làm suy yếu thiền pháp thuần túy, đồng thời làm cho phương pháp tu thiền được đâm chồi bén rễ và ngày càng phát triển trong lòng văn hóa phương Tây.

四、法鼓山總本山方丈一職,不論是由內部推舉,或從體系外敦聘大德比丘、比丘尼擔任,接位之時亦接法統,承繼並延續法鼓山的禪宗法脈,亦不得廢止法鼓山的理念及方向,是為永式。佛說:「我不領眾,我在僧中」,方丈是僧團精神中心,督策僧團寺務法務僧斷僧行,依法、依律、依規制,和樂、精進、清淨。

4. Chức phương trượng Trung tâm Pháp Cổ Sơn, bất luận là do nội bộ suy cử, hay do hoặc bên ngoài chân thành kính mời đại đức tỳ kheo, tỳ kheo ni đảm nhiệm, khi kế vị cũng nên truyền thừa truyền thống pháp phái, thừa kế và tiếp tục mạng mạch thiền tông của Pháp Cổ Sơn, không được hủy bỏ lý tưởng và phương hướng của Pháp Cổ Sơn, những điều này là phương thức vĩnh hằng. Phật dạy: “ Ta không lãnh đạo đại chúng mà Ta ở trong đại chúng” (ngã bất lãnh chúng, ngã tại tăng trung), phương trượng là trung tâm tinh thần tăng đoàn, giám sát sách tấn việc tu học của tăng đoàn, quan tâm đến Pháp, đến Tăng và oai nghi của Tăng chúng, nương theo Pháp, theo luật, theo quy chế, an vui, hòa hợp, tinh tấn, thanh tịnh.

五、我的著作,除了已經出版刊行發表者,可收入全集之外,凡未經我覆閱的文稿,為免蕪濫,不再借手後人整理成書。

5.Trước tác của tôi, ngoài những kinh sách đã được phát hành và đăng báo, có thể tập hợp lại thành toàn tập, những bản thảo chưa được tôi duyệt qua, để khỏi phiền phức người sau không nên chỉnh lý thành sách nữa.

六、在我身後,請林其賢教授夫婦,將我的「年譜」,補至我捨壽為止,用供作為史料,並助後賢進德參考。故請勿再編印紀念集之類的出版物了。

6. Sau khi tôi qua đời, nhờ hai vợ chồng giáo sư Lâm Kỳ Hiền, đem “niên phổ” của tôi bổ sung cho đến khi tôi cuối đời, dùng làm sử liệu để giúp cho các vị hiền đức tham khảo. Không nên biên tập in ấn thành những tập kỉ yếu.

七、我的遺言囑託,請由僧團執行。我的身後事,不可辦成喪事,乃是一場莊嚴的佛事。

7. Di ngôn, di chúc của tôi, do tăng đoàn chấp hành. Hậu sự của tôi không thể tổ chức thành tang lễ mà chỉ là một Phật sự trang nghiêm.

八、僧俗四眾弟子之間,沒有產業、財務及權力、名位之意見可爭,但有悲智、和敬及四種環保的教育功能可期。諸賢各自珍惜,我們有這番同學菩薩道的善根福德因緣,我們曾在無量諸佛座下同結善緣,並將仍在無量諸佛會中同修無上菩提,同在正法門中互為眷屬。

8. Giữa Tăng tục tứ chúng đệ tử không đáng có những ý kiến tranh giành về sản nghiệp, của cải, quyền lực và danh vị, duy chỉ mong chờ vào lòng từ bi, trí tuệ, hòa kính và công năng giáo dục về bốn loại môi trường. Chư vị hiền đức mỗi mỗi hãy tự trân trọng, chúng ta có nhân duyên phước đức thiện căn cùng tu học Bồ tát hạnh, chúng ta từng kết thiện duyên trong đạo tràng của vô lượng chư Phật và cũng sẽ cùng tu tập vô thượng Bồ đề trong vô lượng chư Phật hải hội, cùng là quyến thuộc của nhau trong ngôi nhà chánh pháp.

九、在這之前本人所立遺言,可佐參考,但以此份為準。末後說偈:「無事忙中老,空裡有哭笑,本來沒有我,生死皆可拋。」

9. Đây là bản di ngôn tôi đã lập, có thể để tham khảo, nhưng lấy bản này làm chuẩn. Cuối cùng tôi nói bài kệ này:
“Vô sự mang trung lão,
Không lí hữu khấp tiếu,
Bản lai một hữu ngã,
Sanh tử giai khả phao.”
Tạm dịch:
(Già nua trong Phật sự,
Cửa không có khóc cười,
Xưa nay vốn vô ngã,
Vậy sống chết sá gì!”

Người sáng lập Pháp Cổ Sơn: Hòa Thượng Thánh Nghiêm

Liên Hải dịch

Trụ đá Asoka: xuất xứ và ý nghĩa

Tôi viết entry này qua những gì quan sát được trong thời gian sống và học tại đây và lưu giữ ở blog như là một tài liệu cá nhân.


I. Xuất xứ và ý nghĩa

Vua Asoka (304-232 trước tây lịch), một vị vua Phật tử có nhiều cống hiến rất to lớn cho sự truyền trì mạng mạch Phật pháp và cho đất nước Ấn Độ. Có rất nhiều tài liệu nói về sự nghiệp, sự cải đạo và chủ trương truyền bá chánh pháp Đức Phật của vị vua anh minh này. Một điều đặc biệt là sau khi quy y Phật giáo, vua Asoka đến chiêm bái Tứ Động Tâm - nơi di tích của bậc Đại giác đã để lại. Đến đâu, nhà vua ra lệnh khắc bia đá để làm dấu ấn đến đó. Các trụ đá, bia ký và pháp dụ Asoka được lưu giữ tại các viện bảo tàng ngày nay thể hiện sự tôn kính, ngưỡng mộ Đức Phật và Đạo Phật của một vị vua thuần thành cũng như chủ trương duy trì và phát huy tinh hoa của Đạo Phật trong quá trình truyền bá Phật giáo ra khỏi bờ cõi đất nước Ấn Độ. Trị vì một lãnh thổ rộng hơn diện tích Ấn Độ bây giờ, vua Asoka đã gây tiếng vang không chỉ thời ấy mà mãi đến ngày nay. Một trong những biểu tượng nổi bật nhất của vua Asoka phổ biến ở Ấn Độ ngày nay là trụ đá có bốn sư tử. Chúng ta có thể thấy biểu tượng này ở đâu?

Trụ đá Asoka có bốn sư tử được vua Asoka cho khắc dựng làm kỷ niệm tại thánh địa ở Sarnath, nơi Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên và tăng đoàn đầu tiên được thành lập, khi nhà vua đến viếng thánh tích này. Trụ đá này cao 50 feet (15.24 mét). Trên trụ đá có khắc chỉ dụ của vua Asoka rằng “không ai được gây chia rẽ trong tăng đoàn”. Nét đặc biệt của trụ đá Asoka ở Sarnath là trụ đá có đầu trụ là bốn sư tử dựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt của trụ ngắn này có bốn bánh xe chuyển pháp luân, mỗi bánh xe gồm 24 căm, đặt xen kẽ với bốn con vật xung quanh: một con voi, một con bò đực, một con ngựa và một con sư tử. Tiếp nối với đoạn hình trụ là đế bán cầu hình hoa sen dốc ngược xuống.




Bốn sư tử quay về bốn hướng chỉ cho chánh pháp của Đức Phật, từ vườn Lộc Uyển, nơi Ngài thuyết bài pháp đầu tiên và là nơi tạo dựng trụ đá này, được truyền bá khắp bốn phương. Bánh xe tương trưng cho bánh xe pháp luân chuyển khắp mọi nơi mọi chốn. sau này, các nước Phật giáo, các tổ chức Phật giáo và các cơ sở tu tập thích lấy biểu tượng bánh xe để trang trí, làm logo và biểu tượng cho tổ chức mình với ý nghĩa tương tự.


Bốn con vật trên trụ đá bốn sư tử ở Sarnath được các nhà nghiên cứu giải thích là tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật. Voi tượng trưng cho ý niệm về giấc mơ của hoàng hậu Maya, mẹ của thái tử Sĩ Đạt Ta (sau này là Đức Phật), Bà nằm mộng thấy con voi trắng chui vào bên hông phải, rồi Bà thọ thai thái tử. Con bò đực là tượng trưng cho sự sung mãn hạnh phúc khi Đức Phật còn là một thái tử sống trong hoàng cung. Con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm đường giải thoát khỏi khổ đau cho nhân loại. Đêm vượt thành xuất gia, thái tử ra đi trên một con ngựa. Con sư tử tượng trưng cho cuộc đời hành đạo viên mãn của Đức Phật. Pháp Ngài truyền giảng như tiếng rống của sư tử đánh thức bao con người lìa bến mê sang bờ giác. Bốn sư tử là biểu tượng cho những nền tảng căn bản của giáo lý Đức Phật dạy về chân lý, trí tuệ, hoà bình, lòng khoan dung và lòng từ bi lan tỏa khắp bốn phương.



Bên cạnh cách giải thích có tính tôn giáo, một số người giải thích trụ đá bốn sư tử của Asoka tai Sarnath theo cách phi tôn giáo. Theo cách giải thích này thì bốn sư tử tượng trưng cho sự thống lãnh khắp bốn phương của vua Asoka. Bánh xe pháp tượng trưng cho cho sự lãnh đạo sáng suốt của vua Asoka và bốn con vật tượng trưng cho các lãnh địa của Ấn Độ thời bấy giờ.


II. Trụ đá bốn sư tử của Asoka tại Sarnath bây giờ được tìm thấy ở đâu?

1. Trụ đá nguyên thủy ở Sarnath


Trụ đá vua Asoka cho khắc dựng tại Sarnath được xác định là khoảng năm 250 trước tây lịch. Trụ đá ấy, qua năm tháng thời gian, đã bị gãy đổ.






Phần thân trụ, còn bốn đoạn gãy và các mảnh vỡ, được lưu giữ ngay trên thánh địa nơi đánh dấu Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, bắt đầu vận chuyển bánh xe chánh pháp. Các đoạn trụ này được bao bọc trong một rào chắn, có mái che, cùng trong khuôn viên thánh tích, cách tháp Dhamek không xa.




Đầu trụ là bốn sư tử như đã mô tả ở trên, được lưu giữ tại viện bảo tàng Sarnath ngay gần khu thánh tích. Khách hành hương chiêm bái thánh tích sẽ nhìn thấy phần thân và đầu trụ đá này.


2. Trên quốc huy Ấn Độ
Biểu tượng bốn sư tử của trụ đá Asoka tại Sarnath được chọn làm quốc huy của đất nước vào ngày Ấn Độ tuyên bố dân chủ, ngày 26 tháng 1 năm 1950. Phần đế nửa vòm tròn có họa tiết hoa sen dốc xuống được cắt đi, thay vào đó là hàng chữ Devanagari “Satyameva Jayate” nghĩa là “chỉ có chân lý là chiến thắng” (Truth Alone Triumphs). Trên quốc huy, hình chụp trụ đá thấy được ba đầu sư tử dựa vào nhau, đầu sư tử thứ tư bị khuất. Ba trong bốn bánh xe được nhìn thấy, một bánh xe chính diện ngay ở giữa và hai bánh xe ở hai bên. Bốn con vật trên trụ đá chỉ thấy được con ngựa bên trái và con bò đực bên phải. Voi và sư tử khuất đằng sau.



a) Trên tiền: Vì được chọn làm quốc huy, nên hình ảnh trụ đá bốn sư tử Asoka này xuất hiện trên tiền giấy cũng như tiền cắc Ấn Độ. Ở tất cả các loại tiền giấy (10 Rs, 20 Rs, 50 Rs, 100 Rs, 500 Rs và 1000 Rs), biểu tượng quốc huy xuất hiện ở góc dưới bên trái.

Ở các đồng tiền cắc (1 R, 2 Rs và 5 Rs), biểu tượng này lớn hơn, nằm trên một mặt của đồng tiền.



b) Trên tem: biểu tượng này cũng xuất hiện trên tem thư.

c) Trên đầu giấy viết thư của các cơ quan nhà nước: biểu tượng quốc huy cũng xuất hiện trên tựa đề các đơn, thư của các cơ quan nhà nước.



d) Trên cơ sở của tổ chức ngoại giao: các cơ sở của tổ chức ngoại giao đều có biểu tượng quốc huy.






e) Trên hộ chiếu: bìa đầu tiên của hộ chiếu công dân Ấn Độ có biểu tượng quốc huy
3. Trên quốc kỳ Ấn Độ



Bánh xe chuyển pháp luân Asoka trên đế trụ đá Sarnath được chọn đặt vào vị trí trung tâm của lá cờ tổ quốc vào năm 1947, khi Ấn Độ giành được độc lập. Cờ Ấn Độ có ba sọc ngang ba màu: vàng sậm, trắng và xanh biển, ở giữa là bánh xe 24 căm. Bánh xe chuyển luân này được đặt ở vị trí trung tâm lá cờ, chiếm ba phần tư (3/4) chiều cao phần màu trắng.






Ngày nay, trên bề mặt, Ấn Độ dường như không có Đạo Phật. Thế nhưng sâu thẳm trong triết lý sống, văn hóa, sinh hoạt, người Ấn thể hiện tinh thần, tính chất và nội hàm của Đạo Phật rất nhiều. Biểu tượng trụ đá bốn sư tử của Asoka tại Sarnath và ảnh hưởng của biểu tượng này đến đất nước và con người Ấn Độ cho đến ngày nay là một điển hình.

Tuesday, February 10, 2009

Nổi loạn ứng xử

Mọi sự nổi loạn trong ứng xử đều có liên quan đến những bức xúc trong tâm lý. Đây là phản ứng thường tình như là một bản năng tự vệ với những điều không như ý. Các cách ứng xử ấy, được cho là thô hay tế, tùy thuộc vào khả năng kiềm chế của mỗi con người. Khi khả năng kềm chế của con người đã cạn kiệt, hay đơn giản họ không muốn kềm chế, trong tâm học bức xúc thế nào, họ biểu hiện ra trong ứng xử thế đó. Người khách quan nhìn vào chê thô tháo, kẻ hành xử tự hào “tánh tui thẳng thắn vậy đó”!...

(khi nào rảnh, trở lại viết tiếp entry này)

Monday, February 9, 2009

Lạ


Khi tôi kể về thủ tục giấy tờ liên quan đến việc quản lý người nước ngoài (visa và giấy tờ tạm trú) cũng như việc học hành ở đây, bạn bè tôi bảo: sao lạ vậy? Khi tôi nói về cách làm việc giữa giáo sư và sinh viên trong lãnh vực nghiên cứu, bạn bè tôi cũng bảo: sao lạ vậy? Khi tôi kể về những thói quen của giáo viên, kể cả giáo sư, những người rất ‘pro’ ở đây, những thói quen không nên có của một người trong giới nghiên cứu học thuật, bạn tôi lại nói: sao lạ vậy? Khi tôi kể thêm vài nét sinh hoạt vốn trở thành nếp văn hóa của người Ấn, bạn tôi chỉ còn biết trố mắt: lạ vậy sao?!

Ở đây nhiều năm, đến giờ tôi vẫn thấy… hơi lạ! Đúng là đặc trưng của văn hóa!
Thật ra, thời gian đầu tôi cũng thấy những điều như thế là 'lạ lắm'. Một thời gian sau, thấy vẫn còn 'lạ' và bây giờ thì 'hơi lạ'. Từ 'lạ lắm' đến 'lạ' và rồi 'hơi lạ' là cả một quá trình chịu đựng, đến thích nghi để rồi chấp nhận. Chấp nhận, tôi không nghĩ đơn thuần là một tâm lý tiêu cực mà đó là một khả năng được nuôi dưỡng bằng kham nhẫn và nghị lực của chính mình. Tôi vẫn luôn cầu mong, tôi có khả năng làm thay đổi được những gì có thể thay đổi và có khả năng chấp nhận những gì tôi không thể thay đổi.
Từ 'lạ' đến 'hơi lạ' là một bước trưởng thành của tâm thức!

Sunday, February 8, 2009

The Jade Buddha (Tượng Phật Ngọc)




The Jade Buddha for Universal Peace is one of the largest and most magnificent Buddhas ever carved from gemstone-quality true jade. The Buddha, including lotus and throne will be nearly 3.5 metres (11.4 feet) tall. The Jade Buddha has been carved from one great boulder known as “Polar Pride”. It is a wonder of the world.
Lama Zopa Rinpoche has said “It will illuminate the world and bring inconceivable peace and happiness and help prevent the destruction that is happening so much in the world, including war.” The Buddha inside the Mahabodhi Stupa in Bodh Gaya (India) is the model for the Great Jade Buddha. This Buddha was chosen because it is universally recognised by all Buddhists.The Jade Buddha is on tour throughout major cities in Asia and Australia before being set up at The Great Stupa of Universal Compassion in Bendigo, Australia.

Monday, February 2, 2009

Cuộc sống


Trong cuộc sống, tự mình chọn cho mình một mục đích, tự hoạch định ra phương án và thực hiện các công đoạn để đến đích mình hoạch định. Cả ba yếu tố này đều có vai trò quan trọng và liên quan mật thiết với nhau để cùng tạo nên cuộc sống. Cuộc sống của mỗi cá nhân có thành công như mong đợi hay không tùy thuộc vào mỗi một yếu tố và sự phối hợp của cả ba.


Mục đích

Trong cuộc sống, người có ý thức và lý tưởng đều tự đặt ra cho mình một mục đích sống. Mục đích sống là cái mốc con người tự đặt ra cho mình để phấn đấu cả một đời để hướng đến. Mục đích có thể hiểu là ước mơ thiết thực và khát vọng vươn lên trong cuộc sống. Muốn thành tựu được mục đích sống, chúng ta cần đứng trên mặt đất để xây dựng ước mơ và mục đích cho chính mình, chứ không nên mơ mộng viển vông. Mục đích sống đẹp tạo cho chúng ta một động lực để vươn lên, làm chủ những bản năng của mình, biết nắm bắt thời cơ, biết nương theo điều kiện, môi trường bên ngoài để vươn đến mục đích. Mục đích sống đẹp là sống để hoàn thiện mình, sống để phát huy tiềm năng mình theo hướng đem lại hạnh phúc cho mình, cho người thân và nếu có thể, cho cả những người không thân. Hạnh phúc ấy mình đạt được không phải từ sự đau khổ thiệt thòi của bao con người khác. Nói cách khác, mình không nên đứng trên vai người khác để trở thành cao! Mục đích sống đẹp là sống thể hiện giá trị nhân bản (tính chất người của con người), nhân đạo (tình người của con người) và nhân văn (tính sống tốt đẹp có văn hóa của con người) một cách đúng nghĩa trong xã hội cộng sinh của con người.

Người sống không mục đích như con thuyền không định hướng, cứ lênh đênh trên sóng nước, không làm chủ được vận mạng của mình, mặc cho sóng nước dập dềnh xô dạt, đẩy đưa về đâu cũng được. Người không có mục đích sống dễ sa ngã vào trong những cám dỗ, cạm bẫy của cuộc đời đời thường. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu sinh học của cơ thể, hầu như họ không có mục đích gì khác trong cuộc sống để phấn đấu. Con người, muốn cuộc sống mình có ý nghĩa, nên luôn tự nhắc rằng, sống không phải chỉ để tồn tại. Nơi nào ta đến, mỗi bước chân qua, ta để lại dấu chân trên cuộc đời. Hãy để dấu chân ngay thẳng để khi có dịp nhìn lại, ta không tự áy náy với lòng mình và không cảm thấy có lỗi với người đi trước cũng như người đi sau.

Lập kế hoạch

Muốn viết một bài văn tốt, công việc trước tiên của người học là lập dàn bài. Muốn làm một công trình nghiên cứu, người thực hiện cần có một kế hoạch chương trình trong đó, mình vạch ra những gì cần làm, làm như thế nào trong thời lượng bao lâu, với tiến độ công việc thế nào. Một khi bước này được thực hiện tốt, người nghiên cứu sẽ không bị lạc hướng. Cuộc đời cũng cần có những kế hoạch theo cách thế như vậy, nhưng ở mức độ cẩn trọng cao hơn, vì cuộc sống không đơn giản như một công trình nghiên cứu hay một bài văn. Nhỏ như viết một bài văn, vừa vừa như một công trình nghiên cứu hay lớn hơn như một đời người, chúng ta nên có những hoạch định rõ ràng như vậy. Cần có những kế hoạch cụ thể để không chệch hướng và không bị động trước những quyết định lớn có tính chất quyết định trong cuộc đời mình. Khi có kế hoạch, chúng không phí thời gian để dò dẫm lần tìm mà còn có thể làm chủ được thời gian của mình để tiến hành công việc một cách hiệu quả nhất.
Điều quan trọng nhất trong quá trình hoạch định chương trình của mình là phải có cái nhìn thấu đáo, khách quan trên bình diện rộng để những kế hoạch của mình được xây trên nền đất nơi mình đang đứng chứ không phải ngút tận mây xanh để rồi viễn cảnh được vẽ ra là một bức tranh toàn bích mà bản thân mình không thể nào thực hiện được dù chỉ một phần. Lập phương án không trên thực tế thì đó không còn là phương án nữa và như thế sẽ còn nguy hiểm hơn cả không hoạch định gì. Thiếu thực tế sẽ thành viển vông và đẩy mình vào thế giới của mơ tưởng, hoang tưởng rồi thất vọng càng nhiều hơn. Hãy bắt đầu ngay nơi mình đứng để lên kế hoạch cho tương lai. Cần nhón chân với tay để vươn đến mục đích nhưng nên nhớ, phải ở trong tầm với của mình để đủ cho mình một thử thách để nỗ lực và đủ để không làm thui chột tinh thần vì mệt nhoài, đau chân mỏi tay vẫn không với tới. Hãy bắt đầu lên kế hoạch cho công việc một cách cụ thể, đơn giản nhất bằng cách ghi ra những gì cần làm trong một ngày, một tháng hay một năm. Một khi việc lên kế hoạch cho những gì mình sắp làm trở thành một phần trong cuộc sống, chúng ta có được tâm thế bình an hơn, chủ động hơn, chí ít là đối với những gì mình có thể can thiệp được đối với cuộc sống của mình.

Thực hiện các công đoạn đã hoạch định trong chương trình

Khi đã có mục đích và kế hoạch làm việc, bước cuối cùng là hiện thực hóa kế hoạch ấy để thành tựu mục đích trong cuộc sống. Bước cuối cùng ‘hoàn thành sảm phẩm’ này cũng không kém quan trọng. Một phương cách làm việc có tính khoa học và nghệ thuật là đừng để công việc tạo áp lực cho mình. Với tâm thế nặng nề và mệt mỏi, chúng ta không thể đi xa trên đường dài cuộc đời. Với kế hoạch dài, trung và ngắn hạn đến từng ngày, thậm chí từng giờ, ta không gì phải lo lắng cuống cuồng quá mức mà cứ như thế, tuần tự giải quyết từng vấn đề một cách tốt nhất trong điều kiện có thể. Từng việc một trong từng giai đoạn cụ thể, cần hoàn tất chỉn chu và nghiêm túc nhất. Từ kinh nghiệm thực tế, kịp thời điều chỉnh kế hoạch để sử dụng thời gian tốt nhất. Cần hy sinh một số thú vui cá nhân và điều tiết bản năng thật tốt để giảm thiểu tối đa năng lượng ‘không có ích’ mà dành toàn tâm toàn trí cho việc học và làm. Không khô khan cứng nhắc bằng cách đúc khuôn mẫu sẵn và tự nén mình một cách đau khổ và trong khuôn ấy. Linh động và sáng tạo trong khi thực hiện một kế hoạch có tính mở với nhiều giải pháp lựa chọn dự phòng vẫn là thượng sách trong cuộc sống. Một điều luôn nhớ là dù có nhiều cách thực hiện một vấn đề, cách ấy vẫn không xa rời mục tiêu và phương hướng mình đã lập ra. Câu “đường nào cũng về La Mã” thật đúng khi dùng vào ngữ cảnh này. Hãy ý thức rõ, ‘La Mã’ của mình ở đâu để không lạc lối.

Cuộc đời là những chuỗi sự kiện chắp nối nhau. Nếu nhìn kỹ, sự kiện nào, dù ngắn, cũng có một quá trình. Cố gắng đặt các sự kiện chúng ta phải tham dự vào dưới cái nhìn phân tích để xác định mục đích, phương án khả thi và hành động cụ thể để mình ý thức và chịu trách nhiệm với những gì mình làm. Một cuộc sống có mục đích, có kế hoạch định hướng và các công đoạn này được thực hiện một cách hiệu quả là một cuộc đời đầy ý nghĩa. Ai thực hiện trọn vẹn những bước này trong suốt cuộc đời, người ấy đã trọn vẹn nghĩa sống làm người. Ngoài việc quản lý tốt thời gian của mình, người sống có kế hoạch sẽ bình thản hơn. Hãy là mình đi trong cuộc đời với đầy đủ ý thức về mình và những gì mình thực hiện. Hãy là mình với vai trò chủ động hơn với vận mạng chính mình. Đừng làm lục bình nổi trôi theo dòng chảy.

Sunday, February 1, 2009

Trời nhiều mây...

Trời thấp, mây âm u đan quyện vào nhau rồi bùng lên như thể đang gây gổ. Thế rồi từng luồng, từng luồng mây đen cuồn cuộn chen lấn, đẩy xô nhau chạy loanh quanh tưởng chừng như nghẹt thở! Hôm nay, mây có vẻ... hung dữ và thiếu kiên nhẫn quá! Trời vì thế mà không mấy bình yên!