Trải
qua những năm tháng sống trong cuộc đời, tôi có kết luận rằng: con
người căn bản là không giống nhau về nhiều mặt, nên hầu như khó tương
thích được với nhau, dù trong sâu thẳm, tính cộng đồng của mỗi con
người réo gọi, ta có cảm giác muốn xích lại gần nhau hơn, muốn liên
kết nhau hơn. Hãy lắng lòng suy nghĩ về điều này một chút, ta thấy nhiều điều thú
vị trong sự đa dạng phong phú của con người. Khi nhìn vào sự khác
nhau ở con người, chúng ta nhận thấy sống trong những cơ thể khác
nhau, có quá khứ tuổi thơ hoàn toàn khác nhau, và ngay tại một thời
điểm nhất định nào đó, tư tưởng và cảm xúc của ta cũng không giống
bất cứ người nào, dù đó là người gần ta nhất hay là người rất đỗi
thương yêu của mình. Với sự khác nhau về nhiều mặt, từ cấu trúc gien
di truyền, rồi điều kiện sống, hoàn cảnh sống, tất cả là một điều
kỳ diệu nếu chúng ta có thể sống hòa hợp được với nhau.
Chúng ta khao khát cảm giác muốn kết nối với người khác. Ở tầng sâu thẳm nhất, sự kết nối là trạng thái tự nhiên của tất cả con người chúng ta, cái mà hòa thượng Nhất Hạnh gọi là “tiếp hiện”. Chúng ta kết nối, gắn bó chặt chẽ mà bằng cách này hay cách khác trong xã hội, những trải nghiệm hằng ngày đã cho chúng ta cảm nhận về điều này. Với sự kết nối này, chúng ta thường chịu đựng sự va chạm và tổn thương trong các mối quan hệ con người. Điều này đưa đến một vấn đề nan giải tiến thoái lưỡng nan là “làm thế nào để tôi có tiếng nói riêng mà vẫn cảm thấy gần gũi với bạn bè và những người thân? Làm thế nào để tôi có thể thỏa mãn những nhu cầu cá nhân trong vòng kiềm tỏa của gia đình và môi trường văn hóa xã hội?” Cái gì ta cũng muốn: thể hiện bản thân và không muốn mình lẫn vào trong đám đông cũng muốn, xây dựng mối quan hệ xã hội tốt đẹp với người khác ta cũng thích. Thế nhưng, tìm được sự đồng điệu, giao hòa giữa hai cái này không hề đơn giản.
Tôi nhận thấy rằng
hầu hết khổ đau trong các mối quan hệ đến từ sự không-kết-nối được
với nhau. Một sự không kết nối là sự đổ vỡ trong cảm xúc có tính
phụ thuộc lẫn nhau, như nhà tâm lý học Janet Surrey mô tả, là khi
“chúng ta” tách ra thành cá thể “anh” và “tôi” chứ không còn là một
hợp thể “chúng ta”. Một số sự không-kết-nối có biểu hiện rõ ràng,
như cảm giác bị phản bội khi biết ra người phối ngẫu của mình không
chung thủy. Trong khi đó, một số sự không-kết-nối có biểu hiện vi tế
có thể khó nhận ra hơn trong các mối quan hệ huyết thống, bạn bè,
đồng nghiệp, hàng xóm. Sự không-kết-nối có biểu hiện vi tế khi mối
quan hệ ấy dần bị rạn, nhưng bổn phận, quy ước xã hội ràng buộc
mối quan hệ này và người trong cuộc cố níu để giữ nó không đổ vỡ.
Điều này tạo nên sự đau khổ, bất
an, căng thẳng cho tất cả những người liên quan vì phải gồng mình để
được ghi nhận là “không có việc gì” trong mắt người khách quan.
Biểu hiện của sự
không-kết-nối vi tế không khó nhận ra khi trong lòng thiếu thiện chí,
nhiệt tình, hào hứng vốn có của một mối quan hệ tốt. Sự suông sẻ,
tự nhiên trong mối quan hệ dần mất đi, thay vào đó là sự miễn cưỡng,
sượng sùng, gắng gượng để giữ cái vỏ cỏ vẻ vẫn hoàn hảo trong khi
trong ruột đã bắt đầu hư thúi! Không hào hứng trong một cuộc nói
chuyện, câu chuyện gián đoạn khi một người nhận cuộc điện thoại của
ai đó vừa gọi tới như một cái cớ để từ chối sự kéo dài cuộc nói
chuyện mà theo họ là không cần thiết. Có khi sự bất hòa giữa hai vợ
chồng khiến tổ ấm ngày nào trở thành địa ngục hàn băng và hai
người mà trước đây những tưởng là “hai nửa hoàn hảo” của nhau trở
thành hai người xa lạ ở chung một nhà. Khi còn nồng ấm, người này để tâm góp
ý cho người kia từng chiếc áo kiểu tóc để trông đẹp trong mắt mọi
người, khi đứt-truyền-thông rồi thì mạnh ai nấy biết, ai xong việc và
mệt mỏi, buồn ngủ thì đi ngủ trước, bỏ mặc người kia một mình trong
bóng đêm. Hầu như chắc chắn rằng có một sự không-kết-nối khi cả hai nhận
ra rằng họ đang trải qua một sự gượng gạo, căng thẳng và sợi dây liên
kết trong mối quan hệ này đang có vấn đề theo chiều hướng xấu đi và
đó là các hình thái của khổ đau. Trong bức bách, họ nhận ra rằng cần
phải làm một điều gì đó tích cực và năng động hơn để cứu vãn và
tạo điều kiện cho nó phát triển.
Đức Phật dạy buông xả
là cách để chuyển hóa khổ đau khi
mối quan hệ tình người có dấu hiện biến dạng tiêu cực. Điều này có
nghĩa là chấp nhận những sự không-kết-nối không hề dễ chịu chút
nào mà ta chẳng thể tránh khỏi nếu không có một động thái tích cực
kịp thời trước khi nó rạn đến mức không thể hàn gắn mà đứng trên
vực thẳm của sự đổ vỡ. Sau khi đủ bản lĩnh để dám nhìn nhận sự
thật của vấn đề, tìm hiểu những nguyên nhân đưa đến trạng thái rạn
nứt và nguy cơ này, ta tự cho mình một cơ hội để giải quyết các cảm
xúc khó chịu trong lòng mình để rồi bản thân có đủ năng lượng để
chế tác chất keo dính hàn gắn vết rạn trong mối quan hệ với những
người liên quan. Cần phải có chánh niệm để làm được việc này, vì một
cách bản năng, chúng ta tránh những gì khó chịu mà không hề ý thức
việc này. Khi chúng ta chạm phải
những gì không dễ thương nơi mình – sợ hãi, giận dữ, ganh tỵ,
mắc cỡ, chán ghét – chúng ta có xu hướng rút lui các cảm xúc đó và
chuyển sự chú ý của mình đến nơi khác để tránh né và tưởng rằng
đó là một giải pháp . Thế nhưng, phủ nhận cách chúng ta cảm nhận,
hoặc đổ hết những sợ hãi và lỗi lầm của mình lên người khác,
chúng ta vô tình đã tạo một cái vách ngăn vô hình phân cách giữa
mình với những người mình muốn tạo mối thân tình gần gũi. Cái ta
muốn và cách ta làm không tương ưng khế hợp nhau thì đau khổ tăng thêm,
áp lực nhiều hơn mà không hề có hiệu quả. Đây không phải là một
giải pháp khôn ngoan.
Thực hành chánh niệm,
một phương pháp để sống với những phút giây không dễ chịu, là một
công cụ mãnh liệt để gỡ bỏ những chướng ngại và thiết lập lại hạnh
phúc vốn đã có trước đó trong các mối quan hệ. Chánh niệm bao gồm
cả sự tỉnh giác và chấp nhận những trải nghiệm hiện tại. Một số
nhà tâm lý học, trong đó có Tara Brach và Marsha Linehan, nói về sự
chấp nhận toàn triệt, trong đó, khái niệm toàn triệt nghĩa là căn
bản, gốc rễ, dùng để chỉ cho khả năng ôm ấp cả những cảm xúc tích
cực và tiêu cực, vốn có gốc rễ sâu thẳm, có tính bản năng của mỗi
con người. Chấp nhận trong tình huống này không có nghĩa là chịu
đựng hay bỏ qua những hành vi lừa dối của bản thân mình và người
liên quan. Chấp nhận ở đây có nghĩa là hiểu biết đầy đủ những cảm
nhận không hề dễ chịu, khổ đau chúng ta có thể trải nghiệm tại một
thời điểm nào đó, điều này đưa đến sự tự tin nhiều hơn và thay đổi
tích cực hơn. Một trong những thử thách vi tế nhất là chuẩn bị một
tâm thế sẵn sàng đối mặt với những cảm xúc không dễ chịu và dám
nhìn thẳng vào chúng để tìm giải pháp hơn là tìm cách tránh né
vấn đề. Nếu chúng ta chú tâm đến nỗi khổ niềm đau một cách trọn
vẹn và ôm ấp chúng với tâm từ, khổ đau ấy sẽ tự chuyển hóa một
cách tự nhiên.
Tất cả chúng ta đều
có những điều nhạy cảm riêng, những “nút nóng” tạo nên sự phản ứng
trong các mối quan hệ với người thân. Thực hành chánh niệm giúp
chúng ta nhận diện chúng và rút lui khỏi thói quen phản ứng, để
chúng ta có thể kết nối lại mối
quan hệ với người thân của mình. Chúng ta có thể bắt đầu giải quyết
các vấn đề lặp đi lặp lại với cách đơn giản gồm bốn bước sau: (1)
trước hết, phải cảm nhận rõ cảm giác khổ đau khi mối quan hệ tình
thân bị cắt đứt. (2) chấp nhận rằng đau khổ là một hiện tượng tự
nhiên và là dấu hiệu tích cực của sự đứt truyền thông với người
thân, vì chính đau khổ kích thích ta nhìn ra vấn đề, nguyên nhân của
vấn đề để rồi cần có sự thay đổi tích cực hơn như một đòi hỏi
thúc bách không thể chậm trễ. (3) Ta khám phá ra những vấn đề cá
nhân, những vụng về cố chấp đang tồn tại trong lòng mình và những
trạng thái dễ chịu, thanh thản sẽ được thiết lập nếu những vấn đề
này được giải quyết. (4) Vững niềm tin rằng ta có thể vận dụng khéo
léo và hợp lý những lời Phật dạy một cách có chánh niệm, đúng
lúc để giải tỏa những cảm xúc tiêu cực trong lòng mình trên cơ sở lòng
thương yêu người khác và thương yêu chính mình để hướng đến một sự
hòa hợp, hợp tác đúng nghĩa, hàn gắn từ bên trong, chuyển hóa toàn
bộ chứ không phải bằng mặt mà không bằng lòng để làm tổn thương và
nhức nhối cho nhau.
Chánh niệm có thể
chuyển hóa làm thăng hoa các mối quan hệ cá nhân, nhưng điều này chỉ
có thể khi chúng ta sẵn lòng cảm nhận trong các mối quan hệ, đều
tiềm ẩn nỗi khổ không thể tránh khỏi được. Khi ta chạy trốn, tránh né
những bất an, chúng ta đoạn dứt tình thương yêu dành cho người thân
của mình cũng như chính bản thân mình. Thế nhưng khi chúng ta chánh
niệm và nhuần gội tâm từ hướng về tất cả những cảm xúc khởi lên
trong ta, chúng ta có thể đích thực có mặt trong hiện tại và sống
cho mình cũng như cho người khác.
Đây là điểm bắt đầu
duy nhất để giải quyết vấn đề mâu thuẫn, đứt truyền thông, thiếu liên
kết và rạn nứt trong tất cả các mối quan hệ tình người.