Saturday, February 10, 2018

TẾT – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TU TẬP

Tết Nguyên đán là thời điểm chuyển giao của năm cũ sau khi hoàn thành một chu kỳ thời gian bốn mùa để bước sang năm mới. Đây là ngày hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất trên khắp đất nước. Với tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội, từ thành thị đến thôn quê, từ miền Bắc đến miền Nam đất Việt, Tết là thời điểm vô cùng đặc biệt, quan trọng và thiêng liêng. Đây là lễ hội thể hiện nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, thể hiện sự giao hoà giữa con người và con người cũng như giữa con người và thiên nhiên. Bên cạnh những giá trị nhân văn, đạo đức và thẩm mỹ trong lễ hội truyền thống này, dưới cái nhìn Phật pháp, Tết còn là cột mốc để nuôi dưỡng tâm linh trong pháp lành và điều này góp phần làm cho lễ hội truyền thống này càng thêm nhiều giá trị.

1. Tết: mốc thời gian nhắc về giao hòa giữa con người và thiên nhiên

Theo nguyên nghĩa, “Nguyên đán” là buổi sớm đầu tiên của ngày đầu tiên trong tháng đầu tiên của năm mới và tiết giao thời ấy là thời khắc đặc biệt nhất, gọi là “giao thừa”. Thời khắc giao thừa là thời điểm được chờ đợi nhất, có ý nghĩa thiêng liêng nhất đối với tất cả chúng ta. Đó là điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, là sự kết nối giữa một chu kỳ vận hành của đất trời với một chu kỳ mới, trong đó vạn vật cỏ cây tiếp tục trải qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Đây là thời điểm nhắc mỗi người chúng ta về sự gắn kết, gần gũi giữa con người và thiên nhiên. Chúng ta có thể dễ dàng nhận biết nắng nhạt của cuối năm cũ khác với nắng vàng mới mẻ trải nhẹ lên vạn vật của năm mới, làn gió đông hiu hắt của những ngày trước 30 Tết khác hẳn làn gió mới của ngày mồng một Tết. Sự chuyển mình khá rõ rệt trong một khoảnh khắc thời gian ngắn ngủi giữa cái cũ và cái mới trong dịp Tết Nguyên đán cho chúng ta cảm nhận hòa vào sự sống động của đất trời; từ đó, cảm thấy mình thật sự gắn bó, gần gũi và thân tình với thiên nhiên.
Khi cảm nhận được sự giao hòa tuyệt vời giữa con người và thiên nhiên thông qua thời khắc giao thừa, ai trong chúng ta cũng phải có bổn phận hiểu rằng thiên nhiên không phải chỉ để phục vụ con người, không phải là đối tượng để con người khai thác mà đó là bà mẹ vĩ đại nhất đang nuôi dưỡng cuộc sống con người. Với thái độ sống như vậy, thay vì khai thác đến triệt để, vắt cạn nguồn sống mà thiên nhiên ưu đãi dành cho, chúng ta cần thể hiện thái độ ứng xử thân thiện với thiên nhiên. Thời khắc đặc biệt nhất trong năm này là một tiếng chuông ngân lên nhắc nhở mỗi người chúng ta tiết kiệm hơn, ý thức hơn khi sử dụng các nguồn từ thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống con người. Góp phần bảo vệ môi trường sống, thân thiện với thiên nhiên là đem lại lợi ích thiết thực cho chính mình, đồng thời còn thể hiện tấm lòng của mình đối với các thế hệ tương lai vậy.
Tết là cái mốc thời gian đặc biệt nhất nhắc chúng ta ý thức nhiều hơn về mối giao hòa thiêng liêng giữa con người và đất trời, chứ sự thật thì mối giao hòa này luôn tồn tại trong cuộc sống. Do đó, dưới lăng kính của người thực hành pháp, mỗi người tự nhắc mình luôn trân trọng và bảo vệ bà mẹ thiên nhiên trong mọi sinh hoạt của bản thân để góp phần xây dựng một cuộc sống xanh sạch thân thiện với môi trường. Đây là cách sống tích cực đem lại lợi ích cho mình và cho người đúng theo tinh thần đức Phật dạy.  

2. Tết: mốc thời gian để nhắc về vô thường

Vạn vật đang vận hành theo quy luật của nó và thay đổi không ngừng trong từng sát-na sống. Sự vận hành của vũ trụ là khép kín và không có điểm bắt đầu. Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của đất trời lần lượt tiễn, đón nhau đi mãi. Không có mùa nào là bắt đầu trong vòng chu chuyển này. Nếu có chăng, con người tạm quy ước chọn một điểm nào đó như một cái mốc để định hình những sự kiện, những hoạt động của con người một cách tương đối trong cuộc sống. Với người Việt chúng ta, mùa xuân được chọn làm mùa đầu tiên trong năm và cái Tết được coi là cột mốc thời gian để tính thời điểm bắt đầu.
Theo truyền thống, người Việt chúng ta tính tuổi vào ngày Tết nguyên đán. Ai sinh ngày nào tháng nào không quan trọng, hễ đến mồng một Tết là là sinh nhật chung của tất cả mọi người! Ai cũng thêm một tuổi, vì thế những ngày đầu năm, câu nói mở miệng khi gặp nhau là chúc nhau thêm một tuổi mới với những điều tốt lành nhất. Do vậy, Tết gắn liền với khái niệm về thời gian. Trong khi trẻ con thì đếm ngược từng ngày chờ mong Tết đến để được xúng xính đồ mới, được vui chơi và được tiền lì-xì từ ông bà cha mẹ thì người lớn tuổi bắt đầu trầm ngâm thấy mình “già rồi” mỗi độ xuân về. Mỗi cái Tết là một dấu ấn đánh động tâm chúng ta một cách hiệu quả nhất về vô thường để mỗi người biết trân quý những gì đang có trong hiện tại. Chúng ta vẫn thường lấy cái Tết làm chuẩn về thời gian để ghi nhớ và cân đo các sự kiện, hoạt động trong năm. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã viết: “Mỗi mùa xuân sang, mẹ tôi già thêm một tuổi. Mỗi mùa xuân sang, ngày tôi xa mẹ càng gần”. Đây là lời nhắc nhở chúng ta những điều cần làm với hai đấng sinh thành của mình trước quy luật vô thường của cuộc sống mà thời điểm được lấy làm chuẩn là Tết. Khi nói về hiện trạng sức khỏe của mình, chúng ta chợt nhận ra “năm ngoái tôi còn khỏe hơn năm nay” và ranh giới giữa hai năm đó là Tết.
Nếu vô thường cứ âm thầm trôi theo thời gian như dòng sông lặng lẽ, người chưa giác ngộ như chúng ta khó lòng ý thức được sự chi phối của vô thường trong đời sống của mình. May thay, với sự nhắc nhở của vô thường vào dịp đặc biệt nhất trong năm là Tết như một cột mốc nổi cộm lên, tâm mê ngủ của chúng ta được đánh thức. Nhờ đó, chúng ta ý thức được quỹ thời gian sống của mình đang rút ngắn dần theo năm tháng để có thể chủ động sắp xếp cuộc sống mình tốt hơn. Một khi ý thức được quy luật vô thường của vạn vật, chúng ta biết cách làm cho cuộc đời mình ý nghĩa và đây là công đức lớn nhất của đời người ( (Tăng Chi bộ kinh, chương IX, phẩm số 2, kinh số 20: Vema). Chỉ khi nào nhận thức sâu sắc về quy luật vô thường, chúng ta mới có thể đặt mình vào quỹ đạo tu học nghiêm túc và coi đây là nhiệm vụ cấp thiết nhất của kiếp sống con người.
Tết là thời khắc cho vạn vật thay áo mới, là sự khởi đầu cho những hương sắc mới mẻ, cây trái đâm chồi nảy lộc, ấn tượng nhất là sự nở rộ của hoa mai và hoa đào – hai loài hoa đặc trưng cho Tết truyền thống dân tộc. Từ những cành mai trụi lá trong những ngày cuối năm, nay lộc biếc nụ vàng rung rinh trong nắng xuân chỉ sau vài ngày đổi tiết là biểu hiện sống động của vô thường. Từ những cành đào khẳng khiu trong giá rét, nay trĩu cành với những nụ hồng chúm chím cùng lộc non vươn mình trong tiết xuân ấm áp. Trong cái lụi tàn của những chiếc lá cũ già nua đã rời cành, thân đã ủ trong mình sức sống mãnh liệt để trong một thời gian ngắn, đơm ra những nụ hoa tinh khôi đầy sức sống. Trong cái sanh diệt không ngừng của vạn vật, có cái bất sanh bất diệt, để mầm sống vẫn tiếp nối trong không gian vô cùng, thời gian vô tận. Nhận ra cái không sanh diệt nơi vạn vật đang sanh diệt và nơi chính mình là thấy được bản chất của các pháp: trong hiện tượng sanh diệt hợp tan có cái kiên cố không biến hoại với thời gian. Chính cái tiết giao thừa của Tết là cột mốc rõ nét nhất để chúng ta nhận ra điều này. Thiền sư Mãn Giác đã từng viết:
Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai.
Cùng trong tâm thế này, Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã nhận diện được cái thường trong vô thường thông qua diện mạo của mùa xuân. Khi chưa hiểu rõ bản chất của các pháp, tâm Ngài thăng trầm, vui khi Xuân đến rồi buồn lúc Xuân đi. Khi nhận thức rõ đằng sau cái thay đổi có cái chơn như bất diệt, Ngài tự tại bình thản dệt thành những vần thơ:
            Thuở bé chưa từng biết sắc không,
            Xuân về hoa nở rộn trong lòng.
Chúa xuân nay bị ta khám phá,
Chiếu trải giường Thiền ngắm cánh hồng (Xuân vãn – HT. Thanh Từ dịch).
Với sự quán sát sâu sắc định luật vô thường thông qua sự chuyển biến rõ nét nhất của vạn vật trong dịp đầu xuân, người thực hành pháp lấy đây làm điểm nhấn để luôn nhắc mình về tính chất vô thường của tất cả pháp hữu vi, trong đó có thân và tâm mình để luôn tinh tấn trên con đường tu tập vậy. Cứ huân tập sự quán chiếu vô thường mỗi ngày như thể ngày nào cũng là ngày Tết, lợi ích sẽ càng nhiều hơn.

3. Tết: mốc thời gian để kết nối tình thân

Tết còn là dịp vô cùng đặc biệt trong năm để sum họp, đoàn tụ, kết nối tình thân trong gia đình, họ hàng, xóm giềng cùng bà con xa gần. Đây là dịp người thân quan tâm nhau nhiều hơn, sống trọn vẹn nghĩa tình với người thân, hàng xóm và cộng đồng của mình. Tết là dịp mà hầu như tất cả mọi thành viên trong gia đình đều quy tụ đông đủ để kết nối yêu thương và nuôi dưỡng tình cảm gia đình. Dù đi tha phương làm ăn suốt cả năm, thì đến những ngày này, dù đường sá xa xôi, tàu xe phức tạp cỡ nào cũng tìm mọi cách để trở về quê sum họp dưới mái ấm gia đình cùng người thân trong ba ngày Tết để được ngồi bên nhau dưới mái nhà xưa với bao kỷ niệm thời ấu thơ.
Một trong những truyền thống đẹp trong ngày Tết là tục chúc Tết ông bà, cha mẹ, những người thân trong gia đình và hàng xóm láng giềng với những lời chúc cầu tốt đẹp nhất. Ngay cả những người cùng chung sống trong một gia đình, ra vào gặp mặt, ấy thế mà ngày mồng một Tết cũng quần áo tề chỉnh đến trước ông bà, cha mẹ trịnh trọng chúc Tết theo đúng nghi thức và thứ bậc từ trên xuống dưới. Bà con láng giềng dù có gặp nhau mỗi ngày thì vào dịp đầu năm, vẫn áo quần tươm tất đến nhà từng người thăm viếng, nói lời tốt đẹp với nhau, chúc tụng nhau năm mới nhiều sức khỏe, bình an và hạnh phúc…Những nghi thức này đã thành nét đẹp văn hóa trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc.
Tết còn là dịp để mọi người tha thứ lỗi lầm cho nhau trong tinh thần bao dung và thông cảm, là cơ hội để hòa giải những bất đồng. Nếu những ai có mâu thuẫn, hiềm khích với nhau trong cuộc sống mà chưa thể hóa giải thì tất cả đều được xí xóa khi “năm hết, Tết đến”. Ai ai cũng tự cho mình cơ hội để vui vẻ, hiền lành và bao dung khi sống trong tinh thần “giận đến chết đến Tết cũng thôi”. Tất cả những gì không vui, không đẹp đều được gởi lại cho năm cũ mang đi và giao thừa là thời khắc thiêng liêng để làm sạch, làm mới mối quan hệ trong yêu thương và hoan hỷ.
Mọi người làm những việc này không phải như một thủ tục theo kiểu “xưa bày, nay làm” mà là một thiện chí kết nối yêu thương và bao dung tha thứ đúng với tâm thành của mình thì những việc làm này mới trọn vẹn ý nghĩa. Dưới lăng kinh Phật pháp, đây là dịp tốt để mỗi người tái nạp năng lượng yêu thương, tập nuôi dưỡng tâm từ ái, bao dung đối với tất cả mọi người. Thông qua việc làm thiết thực này, tâm thiện lành được nuôi lớn và cảm giác bình an, thanh thản sẽ đến với người thực hành.
Tết như là cột mốc quan trọng để nhắc tâm mình ý thức hơn việc nuôi dưỡng tâm từ bi, nhưng đây không phải là dịp duy nhất để chúng ta thực tập điều này. Để có được lợi ích lâu dài hơn, chúng ta có thể mở rộng sự thực hành này trong cuộc sống đời thường: mở lòng để gắn kết và yêu thương, quan tâm và chia sẻ, cảm thông và tha thứ. Ngày nào chúng ta cũng trải lòng ra mà sống như thể đó là ngày Tết thì thân tâm mình sẽ được thấm nhuần trong bình an và hành phúc. Do đó, tất cả những tâm lý thiện lành này cần được nuôi lớn luôn luôn trong từng sát-na sống để thiết lập một cuộc sống thật nhiều lợi ích và ý nghĩa.

4. Tết: mốc thời gian để thể hiện lòng tri ân

Tinh thần sum họp, đoàn tụ những thành viên trong gia đình trong dịp Tết còn mở rộng ra đến cả người đã mất như là một biểu hiện của lòng tri ân. Đây là sự gắn kết không ranh giới giữa người sống và người đã mất. Tục lệ cúng “Rước ông bà” về dón Tết cùng con cháu vào ngày 30 Tết mang ý nghĩa này. Bàn thờ gia tiên phải được quét dọn sạch sẽ, mâm ngũ quả trang nghiêm đã được dâng cúng trước lễ “Rước ông bà”. Sau khi “Rước ông bà” về nhà, các gia đình thắp hương mời hương linh ông bà tổ tiên và những người thân đã qua đời về chứng tấm lòng thành và vui Tết cùng con cháu. Thế rồi trong ba ngày Tết, nhà nhà đều kính cẩn dâng cơm và nhiều món ngon với tâm tưởng niệm và tri ân ông bà và những người đã mất. Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng ấm áp của gia đình khiến con người trở nên gắn bó với những người thân của mình hơn bao giờ hết. Sau ba ngày rước ông bà về sum họp với gia đình, mọi người sắm một mâm cơm cúng bàn thờ gia tiên và tất cả con cháu phải tề tựu đông đủ để tiễn đưa ông bà trở về cảnh cũ, rồi quây quần bên nhau dùng cơm trong bữa cúng “Đưa ông bà”.
Tinh thần tri ân của người Việt trong dịp Tết còn được thể hiện qua truyền thống “mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy” mà sự thực hành vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay. Suốt một năm tất bật mưu sinh, bôn ba xuôi ngược, dù đi làm ăn xa hay ở tại quê nhà, mọi người đều bận rộn với công việc của mình. Chỉ có Tết là dịp duy nhất trong năm con người cho phép mình được thảnh thơi, rảnh rang trong suốt nhiều ngày. Đây là dịp tốt nhất để thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” vốn trở thành nếp sống cao đẹp của người Việt. Theo thông lệ, sáng ngày mồng một Tết, vợ chồng con cái anh em ruột thịt đã ở riêng hoặc đi làm ăn xa nay trở về nhân dịp Tết sẽ về nhà Nội để lễ bàn thờ gia tiên, nói lời chúc tụng sức khoẻ và những điều tốt lành đến với cha mẹ và ông bà. Đáp lại, ông bà cha mẹ chúc Tết con cháu kèm theo những đồng tiền mới tượng trưng để trong bao lì xì đỏ gọi là lộc dành cho các cháu nhỏ để con cháu lấy may. Tất cả những nghi thức này đều được thực hiện trong không khí vừa trang trọng, kính cẩn vừa ấm áp thân tình, thông qua đó chuyển tải lòng biết ơn của con cháu dành cho ông bà cha mẹ. Sau khi chúc Tết thăm hỏi, tất cả quây quần bên nhau cùng dùng bữa ăn chung trong tình thân gia đình. Mồng hai Tết là ngày mọi người đến nhà ông bà cha mẹ bên ngoại để chúc Tết. Nghi thức chung cũng tương tự như bên nội. Con cháu chúc tụng ông bà cha mẹ và ông bà cha mẹ mừng tuổi con cháu, sau đó cùng nhau dùng cơm trong tình thương yêu và gắn kết.
Tất cả những thành viên trong gia đình gồm đông đủ con cháu nhiều thế hệ tề tựu về chung một mái ấm gia đình, thực hiện nghi thức chúc Tết và cùng nhau ăn chung trong ngày đầu xuân bao giờ cũng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng mọi người, đặc biệt là tuổi thơ, về hạnh phúc gia đình đầm ấm, sum vầy có trên có dưới, thương yêu và viên mãn. Biểu hiện đẹp ngày Tết đã trở thành nếp sống văn hóa của người Việt, thể hiện sự tri ân của con cháu với ông bà cha mẹ hai bên nội ngoại – cái gốc sinh thành và giáo dưỡng mình nên người.
Mồng ba Tết là ngày người Việt thường dành riêng để đi thăm viếng thầy cô giáo. Trong tinh thần tôn sư trọng đạo, mọi người đi thăm tất cả thầy cô giáo mình đã từng học qua. Thầy ở đây không giới hạn ở phạm vi dạy chữ, mà khái niệm “người thầy” được mở rộng nghĩa, bao gồm cả những người dạy nghề, dạy các môn nghệ thuật như đàn, hát, võ… Truyền thống coi trọng vai trò của người thầy, với suy nghĩ “không thầy đố mày làm nên” đã ăn sâu trong nhận thức của người Việt. Do đó, bên cạnh việc thể hiện sự tri ân sâu sắc công dưỡng dục đối với cha mẹ, ai cũng trân trọng dành cho các thầy cô sự biết ơn chân thành về công lao dạy dỗ, khai tâm mở trí cho mình để thành người hiểu biết, có nghề nghiệp sinh nhai và định vị cuộc đời mình trong nhân quần xã hội.
Với người Phật tử và người không theo đạo mà chúng ta thường nghe họ tự nhận là “đạo thờ ông bà”, Tết còn là dịp để mọi người về chùa lễ Phật, tưởng niệm chư hương linh của người thân được thờ tại cửu huyền và thăm viếng chư tăng ni. Chùa là nơi an lành nhất trong tâm tưởng mọi người, thường được chọn làm nơi thăm viếng đầu tiên trong dịp đầu Xuân, trước khi về chúc Tết ông bà cha mẹ bên nội, với mong ước mọi sự tốt đẹp đến với bản thân và gia đình trong năm mới. Do đó, ngay sau giao thừa, tất cả các chùa đều nhộn nhịp cảnh người ra vào lạy Phật. Đây là biểu hiện tri ân đối với người thầy tâm linh đã dìu dắt người Phật tử đi trên con đường sáng để thiết lập cuộc sống bình an và hạnh phúc.
Thói quen viếng thăm các bậc sinh thành dưỡng dục và những người thầy đã cho chúng ta nghề nghiệp cũng như con đường sống an vui hạnh phúc ở đời là thể hiện lòng tri ân hướng về cội nguồn huyết thống cũng như cội nguồn tâm linh trong dịp Tết. Với người thực hành Pháp, tất cả những giá trị tinh thần và tâm linh cao đẹp này cần được thực hành thường xuyên để được lợi ích nhiều hơn cho tự thân và tha nhân. Thể hiện tinh thần tri ân trong dịp Tết là cách để nhắc nhở, hâm nóng và nuôi lớn tinh thần tri ân trong tâm chúng ta để rồi tinh thần này được tiếp tục thể hiện trong suốt cuộc sống của mình trong suốt một năm.

5. Tết: mốc thời gian để nhìn lại và hướng tới

Tết cũng là cột mốc đánh dấu năm cũ đã qua, một năm mới bắt đầu và bản lề cho sự chuyển giao thời gian này là thời khắc giao thừa. Theo truyền thống, đến ngày 23 tháng chạp thì mọi công việc đồng áng, buôn bán cũng tạm dừng nghỉ để khép lại một năm. Ngày xưa, các cơ quan hành chánh các cấp huyện, tỉnh, trấn, xứ và triều đình đều đóng cửa nghỉ việc từ ngày này, sau khi làm lễ “hạp ấn” (niêm phong mọi con dấu, ấn triện...).  Ngày nay, lễ Tất niên ở các tổ chức kinh doanh được tổ chức với ý nghĩa tương tự. Đây là dịp để mọi hoạt động suốt một năm tạm dừng lại. Mọi người tổng kết, nhìn lại, đánh giá sự thành công cũng như những tồn đọng trong công việc làm ăn, nhằm rút kinh nghiệm và lên kế hoạch cho hoạt động của năm sau với hy vọng nhiều điều tốt lành hơn.
Với cá nhân cũng vậy, Tết là dịp để mỗi người tự đánh giá lại những thành tựu cá nhân, những được mất của cả một năm về tất cả mọi phương diện trong cuộc sống, như công việc làm ăn, các mối quan hệ xã hội, tình trạng sức khỏe… Với người biết thực hành lời Phật dạy, Tết còn là dịp để soi lại chính mình, nhìn lại sự tiến bộ của bản thân trên con đường tu tập để điều chỉnh sự tu học cho hợp lý hơn, với nhiều quyết tâm hơn trong năm tới.
Tết không chỉ là thời gian tạm dừng nghỉ để nhìn lại những gì gặt hái được sau một năm nỗ lực trong cuộc sống, mà đây còn là dịp để làm mới mọi thứ, hòa chung trong sự đổi thay mới mẻ tinh khôi của vũ trụ đất trời. Có những việc có thể làm trong thời gian trước đó, nhưng tâm lý chung, mọi người vẫn để lại và đợi đến gần Tết mới làm, nhất là việc thay mới những vật dụng và đồ nội thất cho nhà cửa khang trang, mới mẻ. Hầu như cả xã hội, nhất là các ngành dịch vụ, đều rộn lên từ vài tháng trước để chuẩn bị mọi thứ mới mẻ chuẩn bị đón Tết. Càng về những ngày cuối năm, không khí Tết càng rộn ràng hơn. Rõ nét nhất là không khí chuẩn bị nhộn nhịp khẩn trương từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, sắp xếp nội thất, chuẩn bị bánh trái, đón tiếp người thân ở xa trở về. Tất cả đều mới mẻ, tinh tươm như thể đây là dịp duy nhất để làm những việc này.
Với người thực hành pháp, việc làm mới nhà cửa và các vật dụng trong nhà gợi nhắc mỗi người nên quay về làm mới thân tâm trên con đường tu học. Làm mới là pháp môn thực hành cụ thể và thiết thực nhất để chuyển hóa tâm, từ bỏ những thói quen xấu, thay vào đó là những thói quen tốt để tiến bộ hơn trên con đường tu học. Làm mới là thực tập nhìn lại chính mình trong mối liên hệ với người thân để hóa giải buồn giận, hiểu lầm đã tạo ra trong suốt một năm. Làm mới là thực tập nhìn lại chặng đường một năm thực hành pháp, để kịp thời điều chỉnh phương pháp tu học cho hiệu quả hơn. Mục đích của việc làm mới thân tâm là để tinh tấn nhiều hơn, tâm định tĩnh hơn, phát triển tuệ giác nhiều hơn, nhằm đem an vui hạnh phúc về cho tâm mình.
Như vậy, Tết là cái mốc thời gian quan trọng nhất đánh dấu cho sự đánh giá cái đã qua, mở ra cơ hội cho những mới mẻ trong thái độ, nhận thức và hành động của con người. Đây là dịp đặc biệt trong một năm nhắc tâm chúng ta điều chỉnh mình cho hợp lý và làm mới thân tâm trên con đường hoàn thiện nhân cách. Thế nhưng, để sự tu tập tiến bộ và lợi ích nhiều hơn, mỗi cá nhân cần thực tập làm mới thường xuyên mỗi tuần, mỗi tháng để kịp thời điều chỉnh, sách tấn tự thân để cuộc sống thêm ý nghĩa.

6. Tết: mốc thời gian nhắc nuôi tâm hoan hỷ

Ngày mồng một Tết thường được cho là ngày vía đức Phật Di Lặc, một vị Phật tương lai, biểu tượng cho sự hoan hỷ và an lành. Khi nhắc đến Ngài, chúng ta đều nhớ đến hình ảnh một ông Phật thân tướng mập mạp, bụng to, ngồi phạch ngực và miệng cười toe toét bên cạnh mấy đứa bé đang vui đùa.
Người Trung Hoa tin rằng đức Phật Di Lặc đã hóa thân thị hiện trong hình tướng một vị hòa thượng được gọi là Bố Ðại vào khoảng thế kỷ thứ X. Ngài có hình tướng mập mạp, vui vẻ, luôn đeo một bao vải lớn trên lưng và hay chơi với trẻ con. Ngài đi khắp nơi, lúc nào cũng thân thiện trong cười hoan hỷ. Ai cho gì, Ngài nhận, rồi đem phân phát cho trẻ con. Ngài luôn đem đến niềm vui cho mọi người, đồng thời, ai làm gì Ngài cũng không phiền giận. Nhiều câu chuyện ly kỳ được kể về vị hòa thượng này. Đến khi ngài thị tịch đã để lại một bài kệ, tự nhận mình là Di Lặc. Vì vậy, tượng đức Phật Di Lặc nhiều người thờ ngày nay đều mô phỏng theo hình ảnh của hòa thượng Bố Đại, với vẻ mặt tươi cười mặc dù có sáu đứa trẻ leo lên nghịch phá trên thân mình. Về phương diện tu tập, hình ảnh sáu đứa trẻ tượng trưng cho sáu tên giặc chuyên gây phiền não khi sáu căn khi tiếp xúc với sáu trần. Đức Phật Di Lặc đã làm chủ được tâm mình, không để sáu căn chạy theo sáu trần, khi tiếp xúc không nhiễm, không dính, không mắc nên Ngài an nhiên, tự tại và luôn nở nụ cười hoan hỷ.
Chính vì lẽ đó, ngày Tết thường được gắn với hình ảnh vị Phật Di Lặc, chúc nhau “đón xuân Di Lặc” là mong ước sự hoan hỷ, bình an và hạnh phúc đến với mọi người. Đây cũng là ước nguyện của những người con Phật, nguyện cầu và mong ước ngày đầu Xuân an vui, hạnh phúc để mở đầu cho suốt một năm an vui, hạnh phúc. Tuy nhiên, lời ước nguyện ở đây cần được coi là sự khởi đầu của một tâm niệm lành để lấy đó làm điểm khởi đầu làm chất xúc tác cho sự nỗ lực tu tập theo hạnh hoan hỷ, tha thứ và bao dung như Ngài để chuyển hóa tự thân. Nói cách khác, chúc nhau “một mùa xuân Di Lặc” là hướng về đức Phật Di Lặc như một hình mẫu lý tưởng để nhắc nhau cùng thực hành pháp “Tứ vô lượng tâm” từ, bi, hỷ và xả, khi sáu căn tiếp xúc sáu trần thì không nhiễm, không dính mắc để được an lành và hạnh phúc.
Hoan hỷ và bao dung là hạnh tu cần thiết cho tất cả ở mọi lúc, mọi nơi, đâu phải đợi đến Tết mới chúc nhau, mới ước nguyện và thực hành? Vì lẽ đó, ai trong chúng ta mỗi ngày đều cần lời cầu chúc ước mong “mùa xuân Di Lặc” như một sự nhắc tâm tu tập các pháp này để tự tại khi sáu căn tiếp xúc sáu trần mới mong có được nụ cười hoan hỷ và bao dung trong mọi hoàn cảnh sống.

Thay lời kết

Tết là mốc thời điểm quan trọng nhất trong năm đánh dấu sự chuyển giao từ mùa đông úa tàn năm này sang mùa xuân vui tươi của năm mới. Đây là khoảng thời gian thiêng liêng nhất của một năm để mọi người ở khắp nơi trở về quê cha đất tổ sum họp cùng người thân trong gia đình. Đây là mốc thời gian để con người giao hòa với thiên nhiên, để con người cảm nhận sâu sắc hơn định luật vô thường đang chi phối vạn vật qua sự biến chuyển nhanh chóng của vạn vật. Tết là thời gian để những người thân tìm về bên nhau, cùng thắt chặt mối dây tình người sau bao tháng ngày bôn ba kẻ ngược người xuôi. Đây còn là thời gian để con người thể hiện truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” đối với các đấng sanh thành, cũng như những người thầy đã tạo duyên để chúng ta có nghề nghiệp, kỹ năng và nhân cách sống như ngày hôm nay. Tết còn là thời điểm để cá nhân và cộng đồng cùng nhìn lại tất cả những hoạt động trong một năm qua, định hướng cho một năm tới với nhiều triển vọng hơn. Những ngày đầu năm là thời điểm thích hợp nhất để chúc nhau một mùa Xuân hoan hỷ và ngập tràn hạnh phúc.
Ngần ấy giá trị cũng quá ý nghĩa đối với ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Tuy nhiên, với người thực hành pháp, Tết còn có giá trị nhiều hơn nữa khi người thực hành coi đây là cột mốc thời gian đặc biệt làm lay động tâm thức để mỗi người tự đưa mình vào quỹ đạo sống thiện lành. Tất cả những điều tốt đẹp cần được hành trì như những pháp tu mới có được lợi ích lâu dài cho bản thân mình. Với cái nhìn từ phương diện tu tập, không chỉ trong những ngày nghỉ Tết, mà khi cuộc sống bắt đầu một chu trình mới của một năm sau những ngày nghỉ Tết, mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những hình ảnh ngày Tết để nhắc tâm luôn luôn an trú trong các pháp lành. Có như vậy, mỗi ngày trôi qua, cuộc sống tròn đầy ý nghĩa và ngày nào cũng là ngày Tết đối với người lấy việc thực hành Phật pháp làm nếp sống cho mình vậy.